Mẹo vặt học tiếng Anh

1. Khi nói chuyện với người yếu tiếng Anh, người Tây thường nhìn miệng để đoán chữ. Vì vậy, bạn nên nắm bắt những âm nào cần phải mở miệng như cười thật tươi, cười mỉm, hay như chúm môi hôn… Đồng thời lưỡi của bạn cũng moving giữa các vị trí chiến lược: sau hàm răng trên, sau hàm răng dưới, giữa hai hàm răng, phía trên giữa vòm miệng, kéo ngược về cổ họng. Nói chung, siêng moving miệng, lưỡi, môi, cho phù hợp giúp phát âm đúng và rõ hơn; và người Tây dễ hiểu chữ ta muốn nói hơn.

2. Biết một từ nào, nhưng không biết cách phát âm đúng, thì bạn sẽ gặp khó khăn để nhận ra chữ đó khi nghe người ta nói, vì trong quá trình tập đọc, bạn đã vô tình tập “sai” cho tai của bạn cách nhận ra chữ đó. Cũng có khi bạn hiểu người ta nói chữ gì, nhưng khi lập lại thì bạn lập lại giống với cách phát âm sai đã nằm lòng trong cái đầu của bạn từ lâu. Theo kinh nghiệm của tôi, bạn cần phải vừa nghe đọc kỹ vừa nhìn cách phiên âm trong tự điển nói online, để hiểu lý do tại sao chữ đó được đọc như vậy.

Ví dụ:

– Chữ nest có phiên âm là “né-s-t”. Tất cả gồm 3 âm: né (dấu sắc vì âm nhấn), s và t.
– Chữ next có phiên âm là “né-k-s-t”. Tất cả gồm 4 âm: né, k, s, t.

Hai từ nest và next đọc khác nhau bởi chữ “k”. Bạn không phát âm k thành tiếng, nhưng phải ngừng lài 1/30 giây (rất chớp nhoáng) để nhận diện sự có mặt của nó, trước khi tiếp tục đọc s và t. S được đọc lướt qua thật nhanh (1/30 giây) để nối vào âm t. Vì vậy, đọc nest nhanh và smooth hơn next.

Muốn phát âm nhẹ nhàng, không bị nặng giọng thì phải đọc rõ ràng từng âm một theo thứ tự. Bắt đầu Chậm Chậm Từng âm. Nest: “né…s… t…” rồi sau đó nối âm với nhau nhanh hơn “né-s-t”. Nhiều người đọc sai: nết-s-t. Còn vô số chữ ta hay đọc nặng giọng Việt khác, ví dụ như chữ boss, đọc “bó- s” chứ không phải “bốt-s”. Có chữ không phải do nặng giọng mà vì đọc sai như chữ motorbike phải đọc là mố-tơ bai-k chứ không phải là mô-tô-bai-k. Những chữ như sau (và tương tự) thường bị đọc âm /æ/ thành /e/: at, happy, laptop, map, mad, hat, cash, taxi. Bởi vậy, ví dụ, happy đọc sai thành hép-py, laptop thành lép-top.

3. Những từ có 2 âm trở lên, bạn phải biết âm nào là âm nhấn. Phát âm đúng và mạnh âm nhấn – bỏ dấu sắc vào âm đó. Đối với âm phụ, nếu bạn đọc nhỏ hay đọc không chính xác, người nghe vẫn dễ dàng đoán hiểu được.

Ví dụ:

– Position: Âm nhấn “zí” phải đọc đúng còn âm phụ có thể đọc khác nhau: po, pô, pơ.
– Positive: Bạn phải đọc đúng âm đầu: “pó”; âm sau là âm phụ nên tùy người đọc zi hay zơ đều đúng.
– Recipt: [rəˈsiːt] or [riˈsiːt].
– Recipe: [ˈresəpi:] or [ˈresipi:].

Tương tự cho các chữ: acadEmy, acAdemic, autOmatic, autonOmy, senAtor, ìnfinItive. E, A, O, O, A, I, E, O, vừa nêu đều được đọc như là ơ vì không phải là âm nhấn – đọc ơ nghe nhẹ nhàng hơn. Dĩ nhiên, nếu bạn đọc sát với âm của chữ cái được viết thì cũng không sao.

Dĩ nhiên là âm nào cũng nên đọc đúng, nhưng âm chính là ưu tiên hàng đầu. Không nhớ âm chính, có thể dẫn tới việc hiểu sai ý nghĩa của chữ muốn nói. Ví dụ: dessert và desert, polish và police (2 chữ này có âm đuôi sh và ce khác nhau nhưng khi nói chuyện người ta thường ưu tiên sự chú ý cho âm nhấn: Nằm ở âm trước hay nằm ở âm sau).

4. Nên tập đọc thuộc lòng những câu văn mẫu trong sách và từ điển để làm vốn khi giao tiếp. Làm được việc này sẽ giúp bạn có phản ứng nhanh nhẹn, và nói những câu ấn tượng y như Tây. Nếu không bạn sẽ dễ bị mất bình tỉnh và tốn thì giờ để soạn câu nói.

5. Có hai âm i: Một i ngắn và một i dài.

– Âm i ngắn cho mọi trường hợp chỉ có một i: Bit, sit, fill, piss, bitch.
– Âm i dài cho các trường hợp khác (có hai nguyên âm liên tiếp nhau): Beat, seat, feel, piece, beach.

Đọc i dài khi nào bạn thấy: ee (see), ea (meal), ie (believe), ei (either), chữ cái cuối cùng là e (me, she, we), cụm chữ cuối cùng là ique (unique, antique), và e + phụ âm + e (Vietnamese, steve, peter, these).

Mỗi khi chụp hình người Tây thường nói “say g” hay “say gee”. G và gee đều có cách đọc, phiên âm (i dài) như nhau: “dzee” hay “dzi:”. Vậy, khi bạn phát âm i dài, bạn nên mở miệng (2 bên) như cười mỉm. Động tác này làm cho âm i dài ra.

Ví dụ:

Sit: Vì i ngắn nên bạn đọc sí + t giống y như là sít + t. Nghe rất “sắc” và nhanh.
Seat: Bạn phải đọc s í í í + t. Âm [i] được kéo dài nên [sííí] không bị ảnh hưởng bởi âm đuôi: [t]

*

*

*

7. Lưu ý là c, g, t có 2 cách phát âm: hard và soft.

Ví dụ:

Phát âm “c” (hard c) cho car, corn, curl, common, vv.
Phát âm “s” (soft c) cho cent, city, cylinder. Ghi chú: c có e, i, y đi kèm..

“g” cho gìft, gun, girl, go, vv.
“dz” cho genius, ginger, gypsy, page, vv. Ghi chú: Phát âm soft g cho g có e, i , y đi kèm.

Hard t phát âm như “th” của tiếng Việt, khi nào t là chữ cái đầu tiên của một từ: Taxi, ten, turn, etc. Đa số người Việt không biết đọc hard t đúng, bởi vậy nói taxi mà người Tây cũng không hiểu.

Soft t phát âm như “t” của tiếng Việt, khi t không phải là chữ cái đầu tiên: artist, captain, enter, etc.

8. Ngày nay có nhiều tự điển nói online, ví dụ: http://www.thefreedictionary.com. Hãy bỏ chữ vào ô search rồi bấm enter để nghe cách phát âm của người Mỹ, người Anh hay theo cách của tự điển. Bạn nên chọn một trong ba giọng. Chọn Vietnamese cho phần translation. Vào spelling bee để luyện nghe. Bạn cũng có thể sử dụng nhiều chức năng khác, như idiom. ngoài ra, còn vô số mạng dạy tiếng Anh rất hay khác, ví dụ, engvid.com.

9. Để chắc ăn, bạn nên kiểm tra lại vốn tiếng Anh mà bạn đang có – Phát âm lại tất cả các mẫu tự a,b,c…z. để xem bạn phát âm có thật sự đúng không và nhìn cách phiên âm để chắc chắn là tai bạn nghe đúng. Sau abcd… thì tới phiên ngày tháng, sáng chiều, đẹp xấu, to lớn, buồn vui… Nên dò xét lại có chữ nào, âm nào trong tiếng Anh mà bạn chưa thể phát âm chính xác hay khi nói thì người nước ngoài hỏi tới hỏi lui.

10. Đa số những chữ có hai âm, dùng cả cho danh và động từ, thì nhấn âm đầu cho danh từ, âm sau cho động từ.

Ví dụ:

Recall, exploit, increase, rebel, produce, insult, refuse, vv.

Phát âm có dấu sắc cho âm nhấn để làm nổi bậc nó. Vì vậy âm còn lại chỉ có thể được đọc không dấu, dấu huyền hoặc dấu nặng.

11. Bạn nên nhớ là khi mà người Tây nghe bạn nói quá chậm chạp, cấu kết câu nói chưa đúng và phát âm khó nghe thì tự động họ cho rằng trình độ tiếng Anh của bạn còn yếu. Họ sẽ dùng từ dễ hiểu nhất để nói với bạn, đồng thời tai của họ expect từ bạn những chữ dễ. Vì vậy, đừng nên dùng từ ngữ khó đọc hay từ ngữ phức tạp để chứng tỏ mình có trình độ. Vô ích! Mình là dân ESL, nói chuẫn giọng và có căn bản để người ta hiểu là quan trọng nhất trong thời gian đầu.

12 Những chữ tận cùng bằng ATE, UDE, thì âm nhấn hầu như lúc nào cũng nằm trước, cách một âm.

Ví dụ:

CoOmplicate, maNIpulate, fAbricate, grAtitude, Attitude, etc.

Tuy nhiên các từ có ION, IC, IOUS ở cuối thì âm nhhấn là âm ngay kế trước.

Ví dụ:

Reflection, application, automatic, exotic, hilarious, suspicious, etc.

13. “less”, “ness”, “est” nằm cuối một từ, hiếm khi nào là âm nhấn, bởi vì, less, ness và est là những chữ được ghép vào nhằm hổ trợ ý nghĩa cho từ chính. Do đó, less, est và ness thường phải được đọc như có dấu nặng cho chắc ăn và rõ. Phát âm tương tự cho “ious”,”age”, “ic” ở cuối một từ. Người Việt thường đọc sai những âm đuôi này vì thường thêm vào dấu sắc, làm cho người nghe dễ lầm tưởng những âm cuối này là âm nhấn.

Ví dụ:

Business, helpless, latest, biggest, gracious, package, manage, automatic, picnic…

*

*

*

14. Đừng quên đọc những âm ở đuôi, chẵng hạn như t, d sh, g, ve, f, c, z, l, ed, st, xt, ted, ches, ess, ive, etc. Không đọc âm đuôi của một chữ, tức chưa đọc xong chữ đó. Đọc không đúng âm đuôi có thể làm cho người nghe hiểu sai ý bạn muốn nói. Thật ra, âm đuôi quan trọng không kém những âm khác.

Ví dụ:

Bạn đọc âm “ai” cho like, line, lime, lithe, light, lie… Nếu tất cả đều được bạn vất bỏ phần đuôi “k”, “n”, “t” thì chữ nào cũng nghe giống y nhau và cái âm “lai” không có âm đuôi là âm chính xác của chữ lie.

Tương tự cho những âm đầu, cần phải đọc để phân biệt chữ đó với chữ khác, ví dụ: please vs lease, blame vs claim.

15. Nhiều người không nhận ra có âm “l” trong tiếng MỸ. Âm l rất quan trọng khi nằm ở cuối chữ. Có khi âm l chỉ nghe phản phất; có khi âm l nghe rất rõ.

Ví dụ: (những chữ âm l rõ)

Smile nên đọc là: s+ˈ mai+ồ+l, oil:ˈoi+ồ+l, style: s+ˈ tai+ồ+ l, mild: mai+ồ+d.

Những chữ tương tự thế này mà bỏ qua âm l sẽ gây khó hiểu cho người nghe. Những chữ như wild, mild và các chữ tương tự, âm l rất quan trọng, trong khi âm d có thể đọc nhỏ hoặc bỏ qua cũng được.

Nói chung, dù âm l đọc lớn hay nhỏ thì khi đọc, đầu lưởi phải di chuyển nhanh, thẳng lên đụng vòm họng. Dĩ nhiên, khi bạn đã giỏi, thì lúc đó bạn nên đọc hết mọi l trong một chữ, dù l nằm ở đâu. Vì không phát âm l nên đa số người da màu đọc chữ, ví dụ, people thành peopo, simple thành simpo.

16. Bạn nên xem đi, xem lại hàng chục lần 1 băng DVD ưng ý, thay vì xem hết cái này đến cái khác. Mở subtitle để vừa xem chữ, vừa nghe nói. Khi bạn đã tự tin về cách phát âm, bạn có thể vừa xem phim vừa đọc theo subtitle. Nhớ đừng chạy theo cho kịp rồi lơ là cách phát âm, nên chậm mà chắc. Xem lại tới lui để nghe cho bằng được mọi chữ, mọi đoạn văn khó. Chúc bạn sẽ có lúc đọc đúng mà vẫn theo kịp.

Khi bạn đã đạt advanced level thì nên vào diễn đàn tiếng Anh, You Tube, hay đọc tin tức trên Yahoo rồi nghiên cứu phần bình luận của độc giả để học hỏi cách diễn đạt suy nghĩ, cách diễn tả phức tạp.

17. Nắm vững voiced và voiceless consonants sẽ giúp bạn áp dụng tốt một số rules khác, chẳng hạn như khi thêm “ed” hay “s” vào sau một từ.

Để tay gần trái khế ở cổ rồi đọc các phụ âm. Chữ nào làm cho dây chằng rung thì được gọi là voiced consonant. Ngược lại ta có voiceless consonant.

Voiceless consonant gồm các ÂM: P, t, k, f, θ, s, ʃ (fashion), tʃ (change).
Voiced consonant gồm các ÂM: b, d, g, v, ð, z (zoo), ʒ (pleasure), dʒ (joke), m, n, ŋ (sing), l, r, w, y.

18. Luôn luôn kéo âm thanh dài ra cho những nguyên âm (vowels) có voiced consonant theo sau và làm ngược lại cho voiceles consonant.

Ví dụ:

Advise, eyes (ai..ai-z), have (háá-v), made (mếế-d), had, bed (béé-d, bag, dog (đóó-g)
Advice, ice (ây-s), half (há-f), mate (mế-t), hat (há-t), bet (bé-t), back, dock (đó-k).

19. Động từ tận cùng bằng t hay d, khi thêm ed vào thì ed được đọc là “id”

Ví dụ:

Wanted, needed, ended, hated, patted, weeded, etc.

Tuy nhiên, khi thêm ed sau một voiced consonant thì e trở thành e câm và d được đọc là [d].

Ví dụ:

Opened, closed (z-d), called, loved (v-d), pulled, showed, earned, changed (dz-d, etc.

“Ed” thêm sau voiceless cosonant thì e câm và d được đọc là [t].

Ví dụ:

Helped (hel-p-t), laughed (la: f-t), washed (wɒʃ-t), worked (wɜː-k-t), liked (lai-k-t), stopped (stɒ-p-t).

Trường hợp thêm s vào sau một động từ (ngôi thứ 3 số ít) thì đọc [z] nếu voiced consonant trước s. Đọc [s] nếu voiceless consonant trước s.

Ví dụ:

[z]: Comes, feels, lives, loans, eggs. [s]: eats, likes, helps, cooks, surfs.

*

*

*

20. U nằm sau d thì phải đọc là dz tương tự như “j” của chữ joke.

Vi dụ:

GraDUal, schedule, education, graduation, procedure, etc.

Nhưng ‘t + u” và “t + y” thì phải đọc như ch của chữ church.

Ví dụ:

AcTUally, statue, nature, situation, fortunate, don’T You, can’t you, etc.

21. Mỗi ngày, bạn nên đọc sách và bất cứ cái gì viết bằng tiếng Anh hay tập nói lại những câu, chữ đã thuộc cho lưu loát hơn. Điều quan trọng là, lúc nào cũng phải đọc đúng từng chữ. Đừng chú ý nhiều đến tốc độ, vì nó sẽ tự động nhanh dần.

Khi gặp từ khó phát âm hay một đoạn câu toàn chữ khó, bạn nên tập đọc tới lui cho đến khi đọc suông sẽ. Những câu văn gọn gàng, diễn tả được những ý nghĩa cần thiết mà bạn thấy trong tự điển, sách, cũng nên ghi xuống và ráng học thuộc sau đó.

Tranh thủ đọc ra tiếng càng nhiều càng tốt để giọng mau thay đổi, khi nào không thể đọc thành tiếng thì phải ráng đọc trong đầu. Gặp chữ nào không biết hay đã quên cách đọc thì phải tra ngay từ điển.

22. Khi “t” là chữ cái cuối cùng của một từ, người Mỹ thường chỉ đọc nó (t) Nếu từ đó ở cuối một đoạn câu, cuối một câu hay vì muốn cố tình nhấn mạnh từ đặc biệt đó.

“t” mà nằm giữa hai nguyên âm (vowel) hay giữa y và một nguyên âm, thì người Mỹ đọc thành “d” thật nhanh.

Ví dụ:

Water, better, city, forty, little, meeting, duty, matter, total, paRty (exception).

Đọc: wader, bedder, cidy, fordy, liddle, meeding, dudy, madder, todal, pady.

Ngoài các trường hợp trên, t thường câm đối với người Mỹ. câm là vì lưởi được đưa vào vị trí để chuẩn bị phát âm t, nhưng lưởi được giử luôn ở đó. (Chú ý: Đừng áp dụng t câm cho tới khi bạn có thể nói lưu loát, vì nếu nói chậm thì phải đọc hết, đọc rõ từng chữ một – không thể lúc này lúc nọ được).

Ví dụ:

Test, most, cast, lust, can’T go, don’t like, at work, budget cut, outside, lately. WhaT? That can’t be right! That apartment felt quite hot.

Vì t câm, nên s là âm tiết được đọc cuối cùng. Tuy nhiên âm s của “test, most, cast, lust” vẫn chỉ được phát âm nhanh, thoáng qua rồi bị dập tắt đột ngột bởi t câm.

À, làm sao phân biệt được cách đọc giữa hai chữ can và can’t. Easy! “can’t” luôn phát âm dài hơn và giọng nhấn mạnh hơn “can” (Xem giải thích rõ hơn ở phần bình luận).

23. Tự ôn lại bằng tiếng Anh, mọi việc bạn đã làm, đã nói trong ngày. Có thể tập tạo ra tình thế mà bạn có nhiệm vụ phải lên tiếng hay giải thích cho người khác hiểu về một sự việc. Lập đi lập lại một đề tài, cho đến khi nào bạn thoả mãn về từ ngữ, cấu kết câu văn, giọng đọc và tốc độ trình bày.

Học tiếng Anh đòi hỏi thời gian, kiên nhẫn và miệt mài. Hãy để ý đến những achievement nhỏ mà bạn đã gặt hái được, nó tạo cho bạn có căn bản vững chắc để tiếp thu nhiều hơn và sâu xa hơn. Nhiều thành công nhỏ chính là thành công lớn.

Paulle

Advertisements

15 phản hồi

  1. nguyenminhdung

    Chào bạn,

    Bài viết này rất bổ ích.
    Tôi đã post nội dung bài viết này của bạn lên blog của tôi (tất nhiên tôi ghi rõ nguồn gốc từ blog của bạn). Hi vọng bạn không thấy phiền gì.

    Cám ơn bạn.

  2. Viết bài để chia sẻ kinh nghiệm với mọi người, vì vậy tôi rất vui khi biết bạn thấy hửu ích và đã đăng bài này trên blog của bạn. Cảm ơn.

    Cách phát âm tiếng Mỹ:
    https://songtra.wordpress.com/2011/01/10/395/

  3. Ẩn danh

    ban oi, the khi nhieu phu am di lien nhau thi sao ah?
    a chi giup e voi.

  4. Songtra nghĩ, bạn nên ghi rõ ràng cái concern của bạn. Nếu nói về cách phát âm thì nên ghi ra vài ví dụ.

  5. Cám ơn sự CHIA SẺ của bạn rất nhiều 😉

  6. Raoul Trường

    [“t” mà nằm giữa hai nguyên âm (vowel) hay giữ y và một nguyên âm, thì người Mỹ đọc thành “d” thật nhanh.

    Ví dụ:

    Water, better, city, forty, little, meeting, duty, matter, total, paRty (exception).

    Đọc: wader, bedder, cidy, fordy, liddle, meeding, dudy, madder, todal, pady.]
    Cái này thì em phát âm được rồi ^_^

    [Ngoài các trường hợp trên, t thường câm đối với người Mỹ. câm là vì lưởi được đưa vào vị trí để chuẩn bị phát âm t, nhưng lưởi được giử luôn ở đó. (Chú ý: Đừng áp dụng t câm cho tới khi bạn có thể nói lưu loát, vì nếu nói chậm thì phải đọc hết, đọc rõ từng chữ một – không thể lúc này lúc nọ được).

    Ví dụ:

    Test, most, cast, lust, can’T go, don’t like, at work, budget cut, outside, lately. WhaT? That can’t be right! That apartment felt quite hot.

    Vì t câm, nên s là âm tiết được đọc cuối cùng. Tuy nhiên âm s của “test, most, cast, lust” vẫn chỉ được phát âm nhanh, thoáng qua rồi bị dập tắt đột ngột bởi t câm.]
    Còn cái này em vẫn chưa làm được. Lấy chữ “notebook” làm chuẩn để đọc theo nhưng vẫn còn khá khó. Như câu “I don’t like that shoes” khi nói em bỏ thẳng đuôi “t” của “don’t”, vậy có sai ko anh? Vì nếu đọc bật “t” thì gần như phải ngừng trước khi đọc vào “like”, lúc đó e thấy gượng lắm.
    Mong a chỉ bảo thêm.

    [À, làm sao phân biệt được cách đọc giữa hai chữ can và can’t. Easy! “can’t” luôn phát âm dài hơn và giọng nhấn mạnh hơn “can”.]
    Cuối cùng, “can” và “can’t” em được biết người Anh sẽ phát âm là /kæn/ và /ka:nt/.
    Nhưng người Mỹ phát âm như nhau, chỉ bật “t” với “can’t” nên sẽ là /kæn/ và /kænt/.
    Hôm trước em đi phỏng vấn bị mắc lỗi này. Em mất bình tĩnh nên đọc ko rõ ràng, ông tây phải hỏi lại “can not?”. Em nghĩ em bị “mất điểm” phần này.
    Có yếu quyết nào a chỉ thêm cho e 🙂

    Những cái trên em ok, ko lăn tăn gì.
    Thanks a lot!

  7. Songtra viết cách đọc nuốt âm t để giúp bà con hiểu dễ hơn khi nghe người ta nói chứ không dám khuyên bà con ráng học theo, vì hầu hết dân di trú sống ở xứ người 20, 30 năm mà còn chưa làm được nữa kia mà. Ngoài ra, cái tâm lý khó chịu với cách phát âm sai, phát âm ngọng hay phát âm với giọng đặt sệt Ấn, Tàu, Việt, Ba Lan, Ả Rập… đã từ từ biến mất bởi vì dân di trú đông quá và vì call center đã dời gần hết qua Ấn Độ. Bởi vậy, Raoul có bỏ thẳng đuôi “t” của “don’t” trong câu “I don’t like those shoes” cũng chả sao, còn nếu luyện thật nhiều ở nhà thì practice makes perfect.

    Ghi ra sự khác biệt phát âm giữa “can” và “can’t” chỉ nhằm mục đính giúp bạn đọc phân biệt sự giống nhau giữa hai chữ này như trong cái ví dụ: I can do that và I can’t do that. St thấy người ta hay hỏi lại “can or can not?” để make sure (khi có yêu cầu lập lại thì phải nói can not). Sự hiểu lầm giữa hai từ này rất nguy hiểm, bởi vậy tốt nhất ta nên đọc rõ ràng mọi âm của can’t trong mọi trường hợp và lúc cần nhấn mạnh thì phải đọc nguyên mẫu: can not. Còn như “I can.” và “I can’t.”, dĩ nhiên đọc giống y nhau nhưng thêm âm t cho can’t – đúng như Raoul nói. Anh giải thích còn thiếu sót nên đã gây trouble cho em – Sorry 🙂

  8. Mèo ướt

    Dear Sir,
    Thank for your instruction. It’s very useful. I think It isn’t easy for me to practice all of them. I wanna get high English level as much as possible. Sometimes, I see foreigners in school or on the beach, I wanna talk or get into conversation with them, but I’m not confident enough to stop them. I don’t know why??? Can you help me to improve my situation?
    I’m looking forward to seeing your reply.
    Sincerely,
    An
    ps: Tell me If I make any mistakes in my letter, Ok? Thank !

  9. Here’s my version:
    Dear Songtra,
    Thanks for your sharing. It’s very helpful but not really easy for me to follow all of your advice. There were several times I was inclined to approach a foreigner (on the beach, on the street or at my school yard) to start a conversation with them but I’ve still never done it. I just don’t know why. Maybe I don’t have enough confidence. Could you help me to improve my situation?
    Sincerely,
    An

  10. Mèo ướt

    I think I need to improve immediately my English skills. Thanks a lot ! 🙂

  11. Minh Trí

    em thấy bài viết thật hữu ích, thật đơn giản và dễ áp dụng, trong trường thầy cô không dạy. cho em hỏi là
    1/ Trong tiếng Anh, người ta đặt tên người dựa vào đâu a?.
    2/ Em không biết là tên người hoặc tên các địa danh thì có quy tắc đọc hay không ạ?
    3/ Có thể giúp em phân biệt: cách dùng của “must” và “have to” được không ạ?

  12. 1. Xưa thật là xưa người Tây thường đặt tên con cái dựa vào những tên Do Thái trong Kinh thánh; rồi càng về sau người ta chế ra thêm nhiều tên mới từ những tên đã có. Ví dụ, những tên sau đây có gốc từ tên Elizabeth (hay là Elisabeth): Lisa, Liza, Lilly, Lillie, Liz, Lizzy, Bess, Bessie, Beth, Betsy, Betty, Bitsy, Ella, Elisa, Eliza, Elisha, Elise, Eliza, Elsa, Isabel, Isabella, và Bella…
    2. Tại các nước ở Bắc Mỹ, nhất là ở Canada và Mỹ, có rất nhiều tên người hay tên địa danh có cách đọc rất lạ, không theo một qui tắc nào cả, vì ở đây có rất nhiều địa danh, đường phố, cơ sở mang tên người có nguồn gốc từ châu Âu từ lâu rồi. Ngày nay, người đến từ châu Âu hay người lớn lên tại đây đều phải nghe qua một lần mới biết cách đọc chính xác cho những tên đó.
    3. Google “the difference between “must” and “have to” thì thấy chỉ có một khác biệt nhỏ mà nhiều người gốc Anh cũng không để ý:
    – I must go to the bank tomorrow. I must stop smoking. I must finish this homework. I must always be on time. Dùng “must” vì mình tự nguyện, tự cảm thấy nên làm hay phải làm.
    – I have to… because of a school rule. You have to pass the test in order to have the certificate. I don’t want to do this, but I have to. Dùng “have to” bởi vì mình bắt buộc phải làm, và sự bắt buộc đó đến từ bên ngoài.
    Chúc em học mau tiến bộ 🙂

  13. Ẩn danh

    bài viết này hay quá.

  14. Cảm ơn cháu Bảo Cúc đã viết comment. Chú có đọc blog của cháu và thích lắm. Chúc cháu vui, khỏe và thành công với spoken English 🙂

  15. Mẹ Cún

    Cảm ơn tác giả nhiều.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: