Hôn thế nào cho đúng???

Thấy hình khoá môi giữa ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng với một thầy tu, tôi cho là Cs Hưng đùa quá trớn. Rồi đọc qua mấy trang giấy phân bua, tôi thấy toàn là nguỵ biện và thách thức đối với những ai không tán thành việc làm của Hưng. Tuy nhiên, quan trọng hơn hết đó là Hưng không có kiến thức về kissing etiquette.

Hôn đâu có lạ gì đối với loài người. Từ thời xa xưa người mẹ đã biết hôn con. Sử dụng cái hôn trong giao tiếp thì từ thời văn minh Ai Cập đã có người làm. Người Việt không có văn hoá hôn, nên nụ hôn thường chỉ xảy ra giữa cha mẹ với trẻ thơ hoặc giữa vợ chồng hay đôi nhân tình với nhau tại chỗ riêng tư.

Đàn ông tại các nước Trung Đông mỗi khi gặp nhau, cả hai người cùng xáp lại nắm hai tay nhau rồi cụng mũi nhau, sau đó mới hôn nhau mỗi má một lần. Tại những nước khác thường thường hai người khác phái mới hôn nhau. Ở Nam Mỹ người ta chỉ hôn nhau một lần; có nơi sau khi hôn xong dang hai tay ôm chầm lấy nhau. Tại Hoà Lan và Thuỵ Sĩ phải hôn nhau ba lần mới đúng điệu. Thường thường người Pháp hôn nhau hai lần, nhưng ở miền Nam có nơi hôn ba lần, có nơi đến bốn lần. Và điều đặc biệt nữa là đàn ông ở miền Nam cũng hôn nhau.

Nói về nụ hôn dành cho tình nhân thì ta có “French kiss” được sáng tạo vào đầu thế kỷ 20 bởi người Pháp. Nhưng mãi cho tới thập kỷ 60 mới được phổ biến rộng rãi và được các baby boomers nhập vào Bắc Mỹ. Muốn French kiss cả hai người phải nhắm mắt và để cho hai cái lưỡi và hai đôi môi đùa với nhau. Theo đúng phép tắc thì hôn kiểu Pháp không phù hợp ở nơi công cộng. Giới trẻ và những cặp tình nhân rất thích hôn kiểu này, nhưng càng lớn tuổi thì người ta càng bỏ thói quen. Thật ra có rất nhiều người Mỹ già chưa từng thử qua.

Tại phương Tây, con chiên có thói quen hôn chiếc nhẫn trên tay của các thầy tu. Ngày xưa, đàn ông có thói quen hôn tay phụ nữ quí tộc để nịnh người đẹp quí phái hoặc để bày tỏ lòng tôn kính. Phong tục hôn tay nịnh đầm ngày nay gần như đã biến mất. Người Mỹ và nhiều dân tộc ở các nước nói tiếng Anh khác (Canada, Úc, Nam Phi, Tân Tây Lan và Anh) không có truyền thống hôn nhau. Họ thường chào nhau bằng cách “say hi/hello” và bắt tay nhau. Lâu ngày gặp bạn thân thì ôm chặc nhau (hug).

Ở Canada và Mỹ có phong tục hôn nhau (giữa nữ và nam) với bất cứ ai mình gặp trên đường phố, trong club hay tại lễ hội đón năm mới, vào những giây phút đầu tiên của năm mới. Ảnh hưởng tâm lý vui là chính do phim ảnh vẻ ra, mỗi nhóm người có thói quen chào (và bye bye) khác nhau: hôn má, khóe môi hay môi, cụng nắm tay, high-five, bắt tay hay ôm nhau hoặc kết hợp cả năm ba thứ: high-five – cụng nắm tay – bắt tay – hôn – ôm. Thú thật, trong đại gia đình tôi, mấy cô em gái và em trai út thường hôn môi mỗi khi gặp mặt; và họ áp dụng luôn với đám con cháu. Nói chung, hôn má thường dành cho giao tiếp, hôn khóe môi thường dành cho người trong gia đình và bạn bè thân thiết. Còn hôn môi thường chỉ dành cho người yêu.

Nụ hôn đúng điệu trong giao tiếp thường phải có tiếng kêu, chạm rất phớt, nhẹ và nhanh. Nói là hôn lên má, nhưng thật ra là hôn gió trong lúc hai cái má chạm vào nhau.

Thường thường, muốn bắt tay thì vừa bước về phía người ta, vừa đưa dần tay ra cho tới khi cách nhau khoảng một cánh tay hay khi hai bàn tay nắm chặt nhau một cách thỏa mái thì dừng lại. Nếu không thấy bàn tay đưa ra và đã gần nhau một mét mà người ta còn bước thêm một bước nhỏ nữa trong khi mắt nhìn về phía má, có nghĩa là người ấy muốn hôn. Để hôn nhau, nhích chân phải về phía trước chút đỉnh, đồng thời hai cái đầu vừa từ từ nghiêng sơ sang bên phải vừa chồm dần về phía trước theo hướng vòng cung để cho 2 đôi má chạm vào nhau; điểm dừng nằm khoảng giữa của hai gương mặt (chứ không phải tại vị trí ban đầu của gương mặt kia). Hôn xong nhớ kéo chân về để giữ khoảng cách vừa phải giữa hai người rồi mới tán chuyện.

Nguyên tắc chân phải nhích lên và hôn má trái là nguyên tắc dựa vào sự tự nhiên (phần lớn chúng ta thuận bên phải. Nguyên tắc giúp tránh xảy ra tai nạn). Dạt đầu ra bên ngoài là để tránh đụng nhau. Còn nghiêng đầu là để dễ chạm vào má. Nói vậy chứ trong thực tế, hiếm ai chủ động nhào tới hôn một người cứ đứng giống như khúc gỗ hoặc tỏ ra lạnh như băng.

***

Bây giờ trở lại chuyện thời sự văn nghệ:

Hôn môi là chuyện bình thường, nhưng vừa nhắm mắt, vừa bá cổ và vừa khóa môi nhau giống như nụ hôn của Cs Hưng trên sân khấu là chuyện rất lạ. Đây là nụ hôn chỉ dành cho vợ chồng, dành cho người yêu với nhau và đối với người đàng hoàng thì chỉ nên hôn như vậy ở chốn riêng tư. Ở các nước phát triển, hôn kiểu Đàm Vĩnh Hưng có thể bị buộc tội “tấn công tình dục” hay tội có hành động quấy nhiễu tình dục. Bởi vậy, người có trạng thái tinh thần bình thường tuyệt đối không nên mạo hiểm hôn như vậy trên sân khấu, còn nếu muốn thì phải có sự ưng thuận trước để tránh ăn bợp tai, tránh bẽ mặt vì bị từ chối.

Trong vụ khóa môi này, hình như sư thầy có yêu cầu được hôn; thế là Mr. Đàm đã “làm ẩu” với thầy và tạo ra một hình ảnh xấu cho các thầy tu của Phật giáo. Tôi thấy hình nhà sư vừa bước tới vừa mở miệng ra đón nhận cái hôn miệng trông thật tự nhiên. Có lẽ điêu luyện được vậy là nhờ đã có quen biết trước với nhóm Hoài Linh và Đàm Vĩnh Hưng. Chắc nhà sư trẻ này sẽ sớm hoàn tục để nhập vào nhóm “gay”.

Tôi thấy đa số ý kiến chỉ trích ca sĩ Hưng thường có nội dung chung chung và chuyễn hướng sang điểm phụ hơi nhiều (hai sư thầy). Ý kiến mạnh khi nó tấn công thắng vào tâm điểm của sự việc – Nụ hôn dành cho tình nhân (đồng tính). Trước hết, không phải vì Hưng khoá môi sư thầy nên đáng bị chỉ trích mà là vì bản chất thật sự của nụ hôn: khoá môi + đê mê nhắm mắt + bá cổ. Ý kiến đánh thẳng vào tâm điểm mới mạnh và có sức thuyết phục, bằng không sẽ tạo cớ cho người ta chạy chối vòng vo.

Paulle

Advertisements

Chính quyền Việt Nam và thương gia nước ngoài bất hợp pháp.

Mỗi khi có tin tức về hoạt động làm ăn bất chính của người Trung Quốc tại Việt nam chúng ta thường nghe những ý kiến như: “Việc người Trung Quốc núp bóng người Việt để… là một kẽ hở của pháp luật” “chúng tôi đã phạt mà vẫn cứ tiếp tục làm” “chúng tôi nói nhưng họ không hiểu” “họ tự làm chứ chúng tôi không cho phép” “ghe thuyền của người Việt đến gần thì bị họ xua đuổi đi” “công an lập biên bản nhưng họ không chịu ký viện cớ là họ không hiểu” “có quá nhiều lực lượng song chúng ta đang lúng túng trong phân cấp xử lý vấn đề người nước ngoài” “các cơ quan chức năng chưa có đợt kiểm tra nào vì phải có sự phối hợp với các cơ quan chức năng, do họ là người nước ngoài” “vì chúng ta lỏng lẻo trong công tác quản lý”.

Theo tôi, những giải thích thường gặp như trên đều vô lý và không dựa trên cơ sở pháp lý. Toàn là những phát biểu dựa trên quyền lợi cá nhân nhằm mục đích chạy tội và tránh né. Chắc chắn việc này có ảnh hưởng không tốt cho người Việt mỗi khi có mâu thuẫn với người nước ngoài (ngay tại dất nước của mình). Sau đây, tôi giải thích tại sao những ý kiến đó vô lý và không phản ảnh đúng sự thật.

Đặt chân lên nước nào thì phải tuân thủ theo luật lệ của nước đó mà luật lệ ở mỗi nước không giống nhau, bởi vậy, người du khách luôn sợ gặp rắc rối khi ra nước ngoài. Đối với người di dân chưa sống đủ lâu cũng vậy, luôn chịu thiệt thòi mỗi khi có xung đột với người bản xứ vì: yếu ngôn ngữ, kiến thức về đời sống và pháp luật còn non nớt.

Luật pháp của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều áp dụng chung cho tất cả mọi người có mặt trên đất nước đó, dù bạn là công dân của nước Việt hay là người đến từ nước ngoài. Tuyệt đối không cần phải có một lực lượng cảnh sát hay một cơ quan đặc biệt để giải quyết chuyện người nước ngoài đang du lịch và đang sống tại Việt Việt Nam. Nói không hiểu khi cảnh sát bảo phạm luật? Mời về đồn. Ngoan cố không nghe lời ư? Dùng vũ lực nếu cần. Bị phạt mà chưa có hay không có tiền để đóng? Nhốt cho đến khi có người chuộc ra. Vâng, ở nước nào cũng vậy, chỉ trừ một ít nhân viên cao cấp của toà đại sứ, còn lại, du khách và người nước ngoài là những người luôn ở vào thế yếu khi cố ý vi phạm luật pháp của nước sở tại. Tôi thấy nước ta ít khi nhốt tù tội phạm người nước ngoài, chứ tại Lào và Thái Lan thì nhiều lắm.

Việc “Thương gia Trung Quốc núp bóng người Việt để nuôi cá, để trồng hay để thu mua nông sản…” tôi không cho đây là kẽ hở của pháp luật. Núp bóng không quan trọng bằng cái cách hoạt động kinh doanh của họ: Có giấy phép không, có hợp pháp không, có hại gì cho nền kinh tế hay cho môi trường không, và sổ sách, có đóng thuế không? Núp bóng thì chính quyền phải xem họ như những du khách người nước ngoài, tức không được quyền tạm trú ở nhà của người Việt, không được quyền làm việc hay có hoạt động mua bán ở nước ta.

Nhờ người khác đứng tên có hại nhiều hơn lợi. Núp bóng là chấp nhận may rủi, là không muốn được luật pháp che chở, là tình nguyện trao tài sản và trao quyền pháp lý của mình cho người khác. Đối phó người nước ngoài núp bóng chắc chắn dễ hơn so với đối phó người nước ngoài làm ăn chân chính được luật pháp VN và toà đại sứ của họ che chở. Ta chỉ cần xem họ giống như những tên tội phạm đang phá hoại nền kinh tế quốc gia (Lúc này toà đại sứ của họ sẽ không thể và chắc cũng không muốn can thiệp).

Số lượng thương gia người Trung Quốc này tương đối nhỏ, nhưng lúc nào đụng đến người TQ là các quan nhà ta thường lúng túng và có ý kiến cực kỳ vô lý. Tôi nghĩ, những người nước ngoài này đã có đóng tiền bảo kê, cho nên họ mới dám hoạt động công khai, dám xua đuổi ngư dân Việt đến gần và dám “không tuân theo lệnh” của công an hay lệnh của các cấp chính quyền nhỏ. Họ dám đứng ra thu mua, dám ăn nằm dầm dề hàng tháng hay hàng năm trời trong nhà của người Việt.

Chính quyền, quân đội, người dân Cam Ranh, ai cũng biết từ lâu nhưng phải mất 4-5 năm thì người dân cả nước mới biết. Điều này cho thấy dân mình còn chậm và còn thụ động lắm, còn báo chí thì không dám lên tiếng ngay từ đầu. Hy vọng sẽ có lúc, khi biết được một sự việc vô lý đã và đang xảy ra, thì ta cũng có thể theo dõi (thông qua truyền thông) để biết chắc rằng sự việc đó được giải quyết đến nơi đến chốn.

Có cả chục triệu người Trung Quốc sống và làm việc bất hợp pháp tại nhiều nước, nhưng sống và làm việc bất hợp pháp một cách công khai, dám thách thức với người bản xứ, ngang ngược với người thi hành pháp luật và tự do lũng đoạn thị trường, như mấy thương gia/thương lái Trung Quốc tại nước ta, thì đúng là chuyện bất thường: Chắc chắn không do lỗi của pháp luật mà do có sự thoả thuận và dung túng.

Nói chuyện thương gia Trung Quốc ngang nhiên làm ăn chui tại Việt Nam tôi nhận ra một nghịch lý: Có một số công ty Việt Nam sang TQ làm ăn theo con đường chân chính, nhưng đa số thất bại te tua vì bị đối tác hoặc cộng sự người Tàu lừa gạt. Thường thường lúc đầu họ rất đàng hoàng nhưng khi khoản tiền đầu tư tăng cao, nguồn hàng nhập vào nhiều thì họ có vô số cách để chiếm đoạt. Đến Tàu và làm ăn với người Tàu ta thua họ vì: 1/Người Tàu có thành ngữ: lừa gạt người ngoại quốc rất dễ! 2/Không biết tiếng Tàu, không có người Tàu gốc Việt (thổ địa của ta) giúp đỡ hay để hợp tác làm ăn 3/Công an và chính quyền TQ thích dòm ngó các công ty nước ngoài và người nước ngoài. Giả sử người Việt sang TQ để núp bóng hay để làm ăn bất chính, có được không? Tuyệt đối không thể được vì cảnh sát và ngay cả người dân thường sẽ không để yên (Không chỉ TQ mà tại Cao Miên, Ma Lai, Thái Lan… đều là chuyện bất khả thi). Nói chung, đến một nước khác để làm ăn bất chính một cách công khai (từ năm này sang năm khác và dưới nhiều hình thức) với người dân của nước đó là chuyện không thể nào làm được, còn nếu làm được thì chắc chắn chính quyền và dân tộc của nước đó có vấn đề.

Paulle

Một số yếu tố mang tính quyết định cho một cuộc họp thành công

Một cuộc họp hay một cuộc thảo luận được xem là thành công thường do 2 yếu tố chính: trước tiên, người tham dự phải có ý thức về những điều lệ/nội qui của cuộc họp, và sau đó là do khả năng điều hành của người chủ toạ. Sau đây là một số kinh nghiệm dành cho bạn khi có dịp ngồi ghế chủ toạ, và một số kinh nghiệm khác.

1. Bản nội qui cần được dán tại một nơi dễ thấy trong phòng họp để mọi người có thể tham khảo trong khi chờ đợi đến giờ họp. Có một số trường hợp, bản nội qui nên được đọc trước khi bước vào phần thảo luận.

2. Khi thảo luận một đề tài, mỗi người chỉ được ưu tiên phát biểu một lần và lần kế tiếp phải ưu tiên cho người vẫn còn giử sự im lặng. Điều lệ này sẽ tạo sự công bằng và nó cho phép những người không mạnh dạn, không muốn tranh giành, có cơ hội góp ý. Ví dụ, bà B đã nói rồi mà bây giờ lại tiếp tục nói chỉ vì mau miệng hơn người khác. Bạn hãy đưa lòng bàn tay lên hướng về phía bà B và nói, “bà B, ý kiến của bà chắc chắn ai cũng thích nghe và bây giờ hãy xem số người còn im tiếng nghĩ gì về vấn đề này”. Hãy dùng câu nói tế nhị, ôn hoà, và giọng nói phải nghiêm túc, ấm áp. Tránh dùng những câu sau đây, vì nó sẽ làm cho người nghe cảm thấy bị đụng chạm và bất mãn dù họ biết là họ sai: “xin lỗi bà B, bà đã nói xong phiên của bà nên bây giờ tới lượt của người khác”, “bà B, bà phải chờ cho đến khi ai cũng đã nói”, “Bà B vi phạm nội qui…”, hay là, “yêu cầu bà B im lặng”.

3. Phải có thời gian giới hạn cho mỗi lượt phát biểu, ví dụ, 3 phút. Để thực hiện tốt qui định này, cần có một người giữ nhiệm vụ bấm giờ. Khi còn khoảng 10 hay 15 giây cuối cùng, nên phát ra tín hiệu nhắc. Khi hết giờ được vài giây, bạn hãy đưa tay lên khoảng 5 giây để nhắc nhỡ lần cuối. Nếu người đó vẫn tiếp tục nói thì bạn phải cắt lời một cách nhẹ nhàng và dứt khoát, “cảm ơn anh Y đã có ý kiến/đã có gợi ý rất hay. Bây giờ ai muốn có ý kiến”. Giới hạn số phút sẽ giúp tránh bớt tình trạng nghĩ đâu nói đó, nói dài dòng, nói lạc đề tài, và nói lặp đi lặp lại. Làm được điều này sẽ giúp cho mọi người chăm chú tập trung lắng nghe, và sẽ không phải ngồi chịu trận, đầu óc phiêu bạc về một chuyện khác, nơi khác.

4. Không được phủ nhận ý kiến của người khác. Ví dụ, không ai có quyền nói, “việc đó đã không xảy ra đúng như ông Z nói”, hay “ông Z nói vậy là sai sự thật”, hay “ông Z vừa mới bịa chuyện….” Bảo người khác sai là cách chắc chắn làm cho họ giận dữ, làm họ cảm thấy bị xúc phạm, và cảm thấy bị coi thường. Hãy nghĩ xem bạn sẽ cảm thấy ra sao, khi bị người khác bảo bạn nói bậy.

5. Khi tranh luận hay khi trình bày ý kiến, chỉ nên bắt đầu câu nói bằng đại danh từ “tôi”. Ví dụ, “tôi không đồng ý….” hay ” tôi thấy…. tôi nghe…. tôi nghĩ….” Xưng “tôi” có nghĩa là người nói muốn đưa ra cho người nghe biết về cái suy nghĩ riêng tư của họ. Dùng những đại danh từ khác (ông, bà, anh, chị….) sẽ dễ làm cho người khác bực mình.

6. Khi nói về người khác ta chỉ có quyền nêu ra những việc làm hay lời nói có bằng chứng cụ thể có giá trị. Tuyệt đối không được suy đoán, nói vô chứng cứ, và tuyệt đối không được đụng đến tính tình, đời sống riêng tư hay những gì thuộc về giá trị vật chất và tinh thần của một cá nhân.

7. Người chủ toạ không cho phép mổ xẻ để đỗ lỗi cho nhau về những sự việc đã xảy ra trong quá khứ, thay vào đó nên tập trung dành nhiều thì giờ để tìm ra cách giải quyết vấn đề tốt hơn cho tương lai và tập trung vào những công việc cần phải làm trước mắt.

8. Ai vi phạm nội qui hay không tôn trong sự điều hành của người chủ toạ, có thể bị mời ra khỏi phòng họp sau nhiều lần cố ý vi phạm.

9. Mời một người trung gian, một diễn giả hay một nhà tâm lý học làm chủ trì cũng là một cách giúp cho cuộc họp thành công.

10. Không được nói lớn tiếng quá mức độ cần thiết. Qui định này có vẻ không quan trọng, nhưng thật ra không phải vậy. Tiếng nói nghe vừa phải có tính khách quan, thường được lắng nghe hơn, và có sức thuyết phục hơn. Khi ráng kiềm chế âm thanh thì ta cũng sẽ tự động để ý hơn đến việc nói năng hợp lý và tôn trọng ý kiến của người khác. Do đó, nói nghe vừa phải là yếu tố cơ bản để có một cuộc họp ôn hoà.

11. Nếu có người không lắng nghe mà xì xầm bàn tán riêng tư với nhau, trong khi có người đang phát biểu ý kiến, thì người chủ toạ nhìn người phát biểu, đồng thời đưa xéo tay lên trời, với lòng bàn tay hướng về phía người đó, rồi (sau vài giây) nói với giọng đĩnh đạt, “Xin lỗi, ông A, hãy chờ cho mọi người im lặng”. Khi nói, bạn nhớ hạ thấp âm cuối cùng (chữ “lặng” trong cái ví dụ vừa rồi), vì nếu không, câu nói sẽ thiếu sự cứng rắn và thiếu sức thuyết phục để làm cho người nghe phải tuân theo. Còn tại sao phải đưa tay như vậy? Đây là cách tạo sự chú ý và động tác này cũng sẽ trợ uy cho câu nói.

Nên nhớ là từ đầu đến cuối, nhất quyết không nhìn về hướng những người làm ồn. Nếu bạn lỡ nhìn người đó thì thế nào những người khác cũng sẽ nhìn. Khi bạn nhìn, họ có thể sẽ chụp lấy cơ hội để nói lớn tiếng hơn hoặc nói công khai – tình hình sẽ dễ trở nên phức tạp; trật tự bị phá vỡ; nội qui bị vi phạm; và khả năng điều hành của bạn bị đe doạ. Ngoài ra, nếu nhìn chỉ để cảnh cáo sự không giử im lặng thì họ sẽ cảm thấy thất vọng, và cảm thấy bị bạn làm cho mất mặt trước các bạn đồng nghiệp. Trường hợp vẫn còn ồn ào, bạn cứ tiếp tục nhìn người đang giử quyền có ý kiến, vẫn đưa tay lên cao, và lập lại, “xin giử im lặng” một cách mạnh mẽ hơn và lần này nói với giọng ra lệnh. Khi sự im lặng đã được vãn hồi, bạn lên tiếng, “cảm ơn ông A, xin tiếp tục”, đồng thời vung tay làm dấu xin mời.

Paulle

P.S. Sẽ edit lại sau.

Tại sao tôi hay cười? :-) ;-) :-)

Trong đời sống hằng ngày tôi hay cười mỗi khi giao tiếp với ai, và nụ cười của tôi cũng luôn có mặt trong các e-mail. Sau đây là một số lý do giải thích “Tại sao tôi hay cười :)”

Để ý các em bé, tôi thấy những em hay nhăn nhó thường bị người lớn cảm thấy khó thương, không quan tâm nhiều, không thích gần gũi và dễ bực mình. Trong khi các em hay cười luôn là trung tâm của sự chú ý. Các em làm cho người lớn lây bệnh cười, làm họ thích chơi đùa, nói chuyện và vui vẻ nuông chìu các em. Nói chung, nụ cười của trẻ em thường đem lại sự cởi mở tấm lòng, niềm hạnh phúc, và sự gần gũi cho người lớn.

Trẻ thơ thường hay cười, vì bất cứ chuyện gì, bất cứ lúc nào và cười một cách vô cớ – đó là những lý do tại sao người lớn mê con nít. Trải qua tuổi thơ, đứa bé bắt đầu ít cười vì vấp phải sự khắt khe của lễ giáo. Rồi khi ra đời, sự bương chải và mưu sinh làm cho ta mất dần nụ cười và tiếng cười – ngược hẳn với thời thơ ấu. Tuy nhiên, vẫn còn vô số người với nụ cười luôn nỡ trên môi.

Nhìn vào những danh nhân trên thế giới, tôi thấy, người nào càng thành công thì họ càng hay cười. Ví dụ như ông Obama, bà Clinton, ông Bill Gates… Thật dễ hiểu tại sao họ cười nhiều. Trên con đường leo lên những nất thang danh vọng ai cũng phải tận dụng tối đa mọi cơ hội, mọi năng khiếu, mọi mối quan hệ, mọi phương tiện, tiền bạc… và dĩ nhiên, họ không bao giờ quên lợi ích của nụ cười và vì tận dụng nhiều nên dần dần họ có luôn thói quen hay cười mỗi khi giao tiếp. Quên sao được khi mà tất cả những thứ khác cần phải tốn nhiều tiền, thì giờ hay công sức mới có thể có được; trong khi nụ cười tạo ấn tượng tốt, có tác động tâm lý sâu xa, tác động tức thời và nó hoàn toàn miễn phí; chỉ trong tích tắc là có ngay và cười cả tỷ lần cũng không mất đồng xu nào. Vậy, cười là một trong những phương tiện giúp ta thành công 🙂

Mỗi lần ra đường, gặp người chạy xe ôm, cô bán hàng, anh phục vụ, nhân viên ngân hàng, bà chủ nhỏ, ông bác sĩ, cô thư ký…. mỉm cười với tôi là tôi cảm thấy giảm đi sự mệt nhọc, cảm thấy thân mật, thoả mái để nói chuyện và bỗng yêu người, yêu đời hơn. Do đó, khi ra đường tôi chỉ muốn tiếp xúc với người ưa cười. Vâng, cười làm cho tôi cảm thấy hạnh phúc 🙂

Tôi thấy, chỗ nào làm ăn phát đạt là chỗ người ta hay cười. Ngược lại, không có hay thiếu nụ cười thì sớm hay muộn cũng bị ế ẩm và khó tồn tại lâu. Do đó, tôi thường nghĩ, tại sao nhiều doanh nghiệp thỉnh thoảng bỏ ra một đống tiền để quảng cáo, nhưng họ không chịu tận dụng nụ cười, trong khi nụ cười có giá trị tiếp thị hữu hiệu hơn nhiều. Theo tôi, nụ cười rất có giá trị cho việc giao dịch, buôn bán, và quảng cáo 🙂

Cười nhiều là biểu hiện của sự mưu cầu hạnh phúc, cho nên tôi hiếm khi có vấn đề với ai và hiếm bị người ta ghét. Cười nhiều cũng là biểu hiện của sự ưa chuộng ôn hoà, thân thiện và bình yên. Cho nên khi tôi có lỗi hay lỡ lời, người hồ đồ, hiếu chiến, người thường lớn tiếng cũng dễ bỏ qua và lo kiềm chế cơn giận, vì thấy thái độ thân thiện của tôi và vì tôi không giành hay cướp lời, không to tiếng, không khiêu khích hay châm thêm dầu vào lửa. Vậy, theo kinh nghiệm của tôi, cười cần thiết cho người muốn sống đời hoà bình 🙂

Nhiều người mặt mày trông khó ưa, hung dữ hay không được đẹp, nhưng khi họ chịu mở miệng cười là thường trông dễ nhìn ngay và nếu họ chịu cười nhiều thì từ từ sẽ trở thành người trông khả ái, ví dụ, bà tỉ phú Oprah, bà Whoopi, bà Michelle O…. Khi cười mặt của ta trở nên sống động, hấp dẫn. Nụ cười trở thành trung tâm của sự chú ý, nó làm cho người nhận tự động mỉm cười lại và không quan tâm đến một vài khuyết điểm nhỏ nhặt trên khuôn mặt. Và khi đã cười tươi với nhau được, thì suy nghĩ của ta thường tự động chỉ thích hướng đến cái tốt, cái đẹp và sự tích cực. Do đó không sai khi nói, cười là cách diễn đạt cảm xúc tuyệt vời nhất của con người 🙂

Tập thói quen cười có khó lắm không? Không khó. Nếu những người bạn tiếp xúc hằng ngày ít cười thì bạn cần chủ động cười mỗi khi nói chuyện. Ở nhà thì dễ lắm. Hãy đề nghị cả nhà cùng cười nhiều hơn và cùng nhắc nhỡ với nhau. Đừng quên cho bộ răng tươi đẹp của mình có mặt khi chụp hình hay khi quay phim. Nhất quyết chỉ treo lên tường hay chỉ cho vào khung những hình cười thật tươi. Tại bàn làm việc ở chỗ làm nên có hình chân dung cười của con, của bạn trai/gái hay của vợ/chồng/cha/mẹ… Nói chung, nhìn thấy nụ cười ở mọi nơi và nhìn thấy thường xuyên sẽ có tác dụng tốt cho bạn. Dĩ nhiên, không thể có kết quả liền, mà phải từ từ những hình ảnh hạnh phúc, rạng rỡ đó mới ngấm sâu vào bạn.

Còn khi bạn muốn lên tinh thần trong lúc đang cảm thấy buồn vời vợi thì tôi có cách này: hãy nhìn xem mình mỉm cười đủ kiểu trong gương, hoặc là bạn tự mỉm cười trong khi nhắm mắt tập trung vào ý nghĩ mình đang cười tươi. Chỉ cần vài ba phút là khuôn mặt bạn trở nên hồng hào, tươi tắn, và nỗi buồn của bạn đã biến mất lúc nào không hay.

Tuy nhiên, có một điều cần nhớ là, nụ cười thật lòng không phải chỉ là nhe răng ra cho người ta thấy hoặc chỉ nhếch miệng chút ít. Nụ cười chỉ có ý nghĩa tốt đẹp khi ta cười với cả tấm lòng hay khi nụ cười có xuất phát từ tâm. Lúc đó nụ cười sẽ có hồn, có nghĩa là phải có ba thứ tham gia tạo ra nụ cười: cái miệng, hàm răng và đôi mắt.

Paulle 🙂

Không có cơ sở để thắng vụ kiện “Ban Me Thuoc Coffee” ở TQ

Thời gian gần đây thấy báo mạng Việt nam nói nhiều về vụ thương hiệu cà phê Ban Mê Thuột được đăng ký bảo hộ độc quyền ở một số tỉnh Trung Quốc. Lúc đầu, nghe nói tỉnh Đắk Lắk dọa ôm chiếu sang Tàu nhờ mấy ông luật sư Tàu kiện ông thương gia Tàu nọ tôi cho là nói đùa. Hôm nay thấy tin chính thức khởi kiện tôi mới thấy tôi chưa đủ thông minh để hiểu tại sao kiện là thắng như nhiều Luật sư VN nói, cũng như không thấy được cái lý do chính đáng cho vụ kiện.

Theo như bài “Việt Nam có đòi được nhãn hiệu cà phê Buôn Ma Thuột?” (15/9/2011) tôi thấy có một đoạn văn như sau:

“căn cứ vào điều 16 của Luật Nhãn hiệu Trung Quốc, với các nhãn hiệu mang chỉ dẫn địa lý liên quan tới hàng hóa không có nguồn gốc từ địa danh được nhắc tới, gây nhầm lẫn trong công chúng về nguồn gốc thật thì đăng ký bảo hộ sẽ bị từ chối và việc sử dụng chỉ dẫn này sẽ bị cấm”.

Vậy, có nghĩa là muốn đăng ký thương hiệu mang chỉ dẫn địa lý thì hàng hoá mua bán phải có nguồn gốc từ địa danh đăng ký. Hôm nay đọc bài “Luật sư Phạm Vũ Khánh Toàn: có cơ sở chắc thắng khi khởi kiện” trên SGTT, tôi thấy có đoạn phản ảnh công ty Trung Quốc này chuyên mua bán sản phẩm cà phê của vùng Ban Mê Thuột (nằm trong câu trả lời thứ nhì: Tại sao ông nói họ không trung thực?) như sau:

“….(năm 2010, công ty này từng ký hợp đồng mua càphê của công ty càphê An Thái ở Dăk Lăk – PV)….”

Vậy, nếu dịch đúng nghĩa điều luật 16 của TQ và nếu công ty “Ban Me Thuot Coffee” có mua cà phê của tỉnh Đăk Lăk, nghĩa là không có ai vi phạm luật nhãn hiệu của TQ, do đó tôi tò mò, ông Ls Phạm dựa vào cái gì khi nói “có cơ sở chắc thắng”.

*

Thiết nghĩ, thương lượng hay tiến hành vụ kiện ở nước ngoài luôn luôn tốn nhiều tiền và khả năng thắng rất ít, bởi vậy, chỉ nên làm khi nào quyền lợi của ta bị đụng chạm hay vì sự tiếp tục xuất khẩu vào thị trường đó gặp rắc rối. Lúc đó ta không những kiện mà còn đòi bồi thường thiệt hại. Nhưng trong vụ này, Việt Nam không có công ty nào đăng ký thương hiệu “càphê Ban Mê Thuột” hay “Ban Me Thuot Coffee”. Không có công ty bị “ăn cắp tên” tức là không có nạn nhân và không có sự thiệt hại. Trường hợp có công ty đăng ký bảo hộ thương hiệu này tại Việt Nam thì vụ kiện mới có cơ sở pháp lý nhưng với điều kiện: hàng của công ty Việt này đã xâm nhập thị trường TQ trước khi có sự xuất hiện của công ty TQ cùng tên. Còn trùng thương hiệu nhưng nơi đăng ký hay nơi hoạt động ở 2 nước khác nhau thì cũng huề.

Thành phố kiện doanh nghiệp ngay tại thành phố của mình là chuyện bình thường khi doanh nghiệp vi phạm luật của thành phố, nhưng ở đây Đăk Lăk muốn kiện một công ty có trùng tên với tên thành phố mình và kiện ở nước ngoài. Điều này không những giống như một trò đùa mà còn đối ngịch với tính vui vẻ, thân thiện và cởi mở của người Việt Nam.

Có Ls cho rằng công ty Trung Quốc làm vậy để ngăn chận Cafe Việt Nam nhập vào Trung Quốc. Tôi cho rằng nói như vậy là không có cơ sở vì cafe Việt Nam đã có mặt ở Trung Quốc từ cả chục năm và dù công ty TQ đó có tên Việt nhưng cũng là một tên riêng hoàn toàn không trùng hợp hay hơi giống với tên của bất cứ một công ty nào ở Việt Nam, nên không ai có thể gây khó dễ cho ai. Tại sao ta không hãnh diện vì tên thành phố được quảng cáo miễn phí, được vượt ra khỏi ranh giới nước Việt? Có lẽ vì chính quyền TQ tham lam quá, mưu mô thủ đoạn quá và bất chính quá nên đã đánh mất lòng tin đối với người Việt Nam, làm cho tỉnh ĐL mất bình tỉnh và nghi ngờ với ngay cả một sự việc rất nhỏ, rất bình thường.

Tôi thường hay thắc mắc, ta có nên coi trọng địa danh trong nhãn hiệu hay không, nếu coi trọng thì tại sao doanh nghiệp Việt Nam chưa bao giờ chọn những tên như: càphê Ban Mê Thuộc, Cà phê Đăk Lăk, Càphê Lầm Đồng…. và Nước Mắm Phú Quốc, NM Phan Rí, NM Phan Thiết, NM Cửa Lò, NM Sa Huỳnh, NM Mũi Né…. Trong ăn uống ta cũng không có thói quen gọi Viet roll (chả giò/gỏi cuốn), Viet sauce (nước mắm), Viet soup (phở), Viet pancake (bánh xèo), Viet sub (bánh mì)… để bày tỏ sự hãnh diện như người Tàu, Thái, Hàn…. thường làm với đồ ăn của họ.

Trên thế giới có hàng chục nước trồng cây càphê và có hàng trăm dịa danh, nhưng chỉ có tên nước Colombia là nổi tiếng về càphê có chất lượng cao. Brasil nổi tiếng về số lượng. Ở ĐNÁ có Indonesia. Ở nước ta (nhập cuộc hơi muộn) cũng có rất nhiều tỉnh có trồng cây càphê. Nói chung, trên thị trường quốc tế tên địa danh của một sản phẩm chưa được khai thác nhiều. Về càphê chỉ có duy nhất Java (Chà Và), tên hòn đảo lớn nhất của Indonesia, được một công ty Mỹ lấy làm thương hiệu – Java Coffee – từ khoảng 30 năm trước. Ngày nay, còn có đủ loại Java: Java software, Java Boutique, Java condominium…. toàn là do người Âu Mỹ chính gốc đặt ra. Ở Canada, nhiều công ty lớn (franchise) chính gốc Canada có tên ngoại quốc, ví dụ: New York Fries, Boston Pizza, Montana lounge & restaurant, Bombay co…. Đã có lần báo hãnh diện khoe: một cư dân có hai quốc tịch về lại quê cũ mở một công ty lấy tên: Toronto inc.

Người Tàu thường xoá bỏ dấu vết ngoại nhập trong văn hoá của họ. Tôi thường buồn khi thấy trái cây Việt (nhãn, dừa…) và nông sản Việt không được tôn trọng cái nguồn gốc của nó khi lọt vào tay thương gia TQ. Tôi thường nghĩ, ai cũng có quyền chọn đặt tên theo sở thích của mình và đặt cho bất cứ cái gì thuộc quyền sở hữu của mình miễn không giống một tên nào đó đã có dăng ký bản quyền. Thương nghiệp Việt ở nước ngoài từng mượn tên Tàu, Pháp, Mỹ…. nên nay thấy vui vì có người nước ngoài thay vì chọn cái tên cho oai, cho hay, hoặc cái tên có bốc mùi càphê thơm lừng, lại chọn cái tên không ai ở TQ hay trên thế giới biết đến.

Tôi cho rằng ông bà chủ công ty BMT Coffee đó can đảm vì dám vượt ra khỏi cái thói quen Tàu. Bravo! Tôi thích và mong ước có nhiều người ngoại quốc đặt tên riêng hay tên thương hiệu bằng tên Việt, nhất là những người hay những công ty có giao dịch, mua bán với người Việt.

Một khiếu nại không có cơ sở pháp lý và một vụ kiện dựa vào cảm tính thì không thể nào thành công được, ngược lại, khi thua kiện có thể phải bồi thường cho công ty nọ. Nếu như phong tục Việt Nam kỵ đặt tên địa danh cho thương hiệu thì điều này vẫn còn xa lạ đối với nhiều dân tộc khác. Hy vọng vụ đòi kiện kỳ lạ này sẽ chỉ phổ biến trên báo tiếng Việt mà thôi. TQ có câu tục ngữ bất hủ: lừa người nước ngoài dễ ẹt! (a well-known Chinese proverb: “we can always fool a foreigner”). Bởi vậy, cần nghiên cứu, suy nghĩ kỷ trước khi có hành động, nhưng trước nhất là phải có lý luận rõ ràng và vững vàng.

Paulle

Bàn về văn hoá: Việt Nam, Tây phương, truyền thống và hiện đại

Văn hoá: văn là “vẻ đẹp”, hoá là “trở thành”; văn hoá là những cái tốt, cái đẹp có giá trị. Được định nghĩa quá tốt đẹp nên mỗi khi nói về văn hoá ta thường ca ngợi, chỉ thích bàn về những gì được cho là tốt đẹp. Mỗi lần nghe ai phát biểu có hơi hướm bảo vệ văn hoá truyền thống là ta thường tự động nghĩ tốt về người đó. Ta cho họ đúng, họ có tinh thần dân tộc.

Phong tục tập quán, tín ngưỡng, ngôn ngữ, cách ăn mặc, cách suy nghĩ, cách đối xử giữa con người, cách làm việc, cách chạy xe, cách mua bán, cách ăn uống và cách đối phó với thiên nhiên. Tất cả đều góp phần tạo nên bản sắc riêng của một dân tộc gọi là văn hoá. Văn hoá biến đổi theo thời gian, tuỳ thuộc vào sự phát triển trí tuệ, nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần của con người và sự thay đổi của môi trường sống. Mỗi thời đại có những nét văn hoá độc đáo riêng của nó nhưng thường chỉ phù hợp với quan niệm sống và chỉ mang lại lợi ích cho con người sống ở thời đại đó.

Văn hóa truyền thống (VHTT) là văn hoá cổ truyền cũ xưa đang còn tồn tại trong xã hội ngày nay. Còn tồn tại vì còn phù hợp, nhưng khi con người có ý thức cao hơn về nếp sống văn minh thì VHTT sẽ tự động bị mai một và cuối cùng chỉ còn lại trong các sản phẩm văn học, nghệ thuật hay lễ hội truyền thống. Chỉ những bộ tộc sống cô lập và chưa bao giờ giao tiếp với bất kỳ một dân tộc nào khác từ ngàn năm qua mới có thể giữ được tương đối nguyên vẹn nếp sống truyền thống của xã hội nguyên thuỷ.

Thường thường từ quê lên phố, từ tỉnh này sang tỉnh khác hoặc từ ngoài Bắc di cư vào Nam để sống là ta phải thay đổi thật nhiều thứ: từ giọng nói đến thói quen, cách sống. Những thay đổi này một phần do nhu cầu của cuộc sống mới và một phần nhờ đã tiếp thu được một số kiến thức giúp cho ta hội nhập dễ hơn vào môi trường sống mới. Dĩ nhiên các thay đổi này chỉ có lợi. Nói chung, môi trường sống mới lạ, văn minh hơn môi trường cũ hoặc có thật nhiều kiến thức sống sẽ cho ta động cơ và tạo nhu cầu cần có phong cách và nếp sống văn minh hơn trước.

Trung Quốc có VHTT lâu đời và phong phú nhưng vẫn là một nước rất lạc hậu cho tới khi nước này chịu đổi mới – Mỗi năm TQ gởi hàng trăm ngàn sinh viên đi du học để học hỏi kiến thức và giá trị của văn hoá hiện đại. Cách đây 150 năm, Nhật Hoàng đã quyết tâm học hỏi những cái hay của Tây phương để cải tổ xã hội và trang bị kiến thức mới cho người Nhật. Thật ra, ngày nay con người ở Nhật, Hàn, Sing, Hongkong văn minh không thua gì kiều dân của họ đang sống ở phương Tây.

Hãy nói về Tây phương. Văn hoá truyền thống ở phương Tây chính là văn hoá Ki Tô giáo. Còn những gì mà ta cho là văn hoá Tây chính là sản phẩm của văn hoá hiện đại. Văn hoá hiện đại phản ảnh những giá trị thực tế, nó phát sinh dựa vào sự hợp lý đối với hoàn cảnh hiện tại. Nó linh động thay đổi để phù hợp với nhận thức và phục vụ nhu cầu thực tế của con người. Ngày trước ta thường cho văn hoá Pháp là văn hoá của người Tây phương, ngày nay ta thường nghĩ văn hoá Mỹ đại diện cho người Âu Mỹ. Thật ra, văn hoá của mỗi dân tộc ở châu Âu và châu Mỹ đều khác biệt nhau. Và dĩ nhiên mỗi văn hoá đều có một số ưu khuyết điểm.

Văn hoá mới tạo bản sắc mới và trang bị cho dân tộc một khả năng mới, một vũ khí mới cần thiết cho thời đại. Nhưng dù có đổi mới thế nào thì cũng phải dựa trên nền tảng của văn hoá dân tộc. Cứ để cho văn hoá tự phát theo ý muốn của mỗi cá nhân hoặc cứ chạy theo văn hoá của một dân tộc/quốc gia khác là việc làm rất tai hại vì cũng giống như vô tình tự nguyện làm nô lệ văn hoá cho một dân tộc khác.

Ở phương Tây, nhiều người Tàu, Ấn, Nhật đã hội nhập hoàn toàn vào cái “lò đồng hoá” rất tốt và họ vẫn giữ được bản sắc dân tộc của họ. Hiện nay, gần như tất cả trong số hai triệu người Việt đang sống ở các nước Âu Mỹ vẫn không làm sao mất được cái bản sắc Việt. Có sống ở Âu Mỹ cả ngàn năm vẫn không thể thay đổi màu da và vóc dáng. Vì vậy, thật là phi lý khi một số người Việt phát biểu với vẻ lo sợ: “Hòa nhập chứ không hòa tan.”

Nói chung, văn hoá bao gồm tất cả những gì thuộc về con người, thuộc về một dân tộc hay một quốc gia. Văn hoá có thể làm cho một dân tộc cứ nghèo khổ mãi và làm cho một dân tộc khác hùng cường, hạnh phúc và khôn ngoan.

Paulle

Tìm hiểu về những tác hại của căn bệnh cẩu thả

Nếu chỉ được chọn ra một thói xấu của người Việt chúng ta để dẹp bỏ thì tôi chọn tính cẩu thả, còn được gọi là tính qua loa đại khái.

Cẩu thả là cái tính đã ăn sâu tận xương tuỷ của người Việt từ bao đời. Nó có thể đã là một tính vô thưởng vô phạt trong quá khứ, nhưng vào thời buổi đất nước cần dồn mọi nổ lực để phát triển thì cái tính này càng trở thành kẻ thù số một của dân tộc Việt Nam. Thật vậy, có quá nhiều người Việt: từ người nghèo tới người giàu, từ trẻ đến già, từ bình dân giáo dục cho đến giới trí thức, từ nhân viên cho tới cấp lãnh đạo vẫn còn quá nhiều người dính cái tính này.

Làm cẩu thả một việc gì là cố ý không làm tốt: làm lấy có, làm dối, làm đại, làm ẩu, làm qua loa hay làm không đến nơi đến chốn. Biết không hay, không đúng, không nên nhưng vẫn cứ làm. Người có tính qua loa đại khái chỉ muốn làm xong việc cho nhanh chứ không tuân thủ theo quy trình và cũng không thật sự cố gắng.

Thói quen này chỉ thoả mãn sự lười biếng lao động và lười biếng suy nghĩ, tìm hiểu. Người lao động tay chân làm việc ẩu tả sẽ gây thiệt hại cho chủ và không thể đạt năng suất lao động cao. Còn người lao động trí óc làm dối việc thì không những không thể đạt được hiệu quả cao mà còn có thể gây ra hậu quả vô cùng tai hại, vì vai trò đầu tàu của họ trong xã hội.

Chuyện gì sẽ xảy ra nếu ta (người trí thức) làm việc cẩu thả? Ta không cẩn thận, ta cứ vấp những lỗi thông thường nên bạn đồng nghiệp có thể rất bực bội ta. Ta cứ lè phè, lề mề, an phận, không cầu tiến nên ta chẳng học hỏi được nhiều điều hay. Dĩ nhiên ta cũng không thể học hỏi và tích luỹ được nhiều kinh nghiệm từ chính công việc của mình. Ta không phấn đấu, không thích phát huy hết năng lực nên khả năng làm việc ngày càng lụn bại. Ta không có cơ hội thăng tiến vì công việc hằng ngày ta còn chưa có thể hoàn tất một cách đàng hoàng. Trước sau gì ta sẽ đánh mất sự tin tưởng và lòng kiên nhẫn của người khác, rồi sẽ không ai dám đưa cho ta hay nhờ ta làm một việc gì quan trọng.

Khi ta làm việc cẩu thả thường thường ta chỉ gặt hái được những kết quả: đáng vứt đi, chỉ uổng tiền, phí thì giờ, phí công sức, và nó còn có thể phát sinh nhiều phiền toái. Do đó, ai có tính xấu này thì chỉ nên làm các nghề lao động chân tay đơn giản và không quan trọng. Nhưng xã hội lạc hậu luôn có vô số nghịch lý, chẳng hạn như người có chức vụ cao vẫn hay vô tư làm việc cẩu thả. Bởi vậy, xã hội cứ mãi ì ạch với những rắc rối, sai sót, phi lý và bất cập.

Bây giờ hãy nói về kiến thức qua loa, sơ sài, hời hợt, không có chiều sâu hay không có căn bản. Khi tiếp thu những kiến thức liên quan trực tiếp đến công việc ta nên tiếp thu một cách cặn kẻ để có thể hiểu thấu đáo, rồi sau đó có thể áp dụng tốt các kiến thức đó vào thực tế. Nếu Không, công việc sẽ bị bế tắc hoặc sẽ xảy ra nhiều trục trặc bất ngờ. Kiến thức sơ sài chắc chắn không thể cho ta khả năng ăn nói có sức thuyết phục cao, trong khi nó rất dễ gây hiểu lầm, bất bình, tranh cãi và làm cho ta dễ có khuynh hướng sử dụng bạo lực để giải quyết những bất đồng. Nó còn có thể làm suy yếu tinh thần: không có khả năng lý luận sâu xa, thiếu sự tự tin và có lập trường không vững chắc.

Kiến thức không có chiều sâu làm cho ta dễ bị thiển cận, chẳng hạn mới đây nhiều người ùn ùn mua vàng rồi nháo nháo bán, rồi lại tiếp tục lập lại chu kỳ – vui đó rồi khóc đó. Nó xui khiến ta thích nghe và tin những chuyện tầm phào, những lời đồn thổi, ví dụ, tin ăn gạo P6 bị ung thư hay tin ăn dưa hấu bị chết. Kiến thức không có căn bản làm cho ta thông thể phán đoán/nhận định (judge) tốt một chuyện gì. Nó làm cho ta có thói quen ưa tò mò chuyện vớ vẫn, chuyện thiên hạ – ví dụ: dừng xe lại để xem cho tới cùng một vụ tai nạn giao thông, một vụ cãi lộn hay đánh nhau.

Biết đủ thứ chuyện trên trời dưới đất và chỉ cần biết một cách qua loa để ngồi lê tán dóc rất có hại cho bộ óc. Nó từ từ làm cho ta lười biếng suy nghĩ, còn khi chịu suy nghĩ thì cũng thường là những suy nghĩ vội vàng qua loa. Nó làm cho ta mất dần thói quen tập trung lắng nghe, tập trung quan sát, và cũng làm mất dần khả năng tập trung đầu óc cho công việc. Kiến thức qua loa còn ảnh hưởng không tốt đến khả năng phân tích và khả năng suy nghĩ sâu xa để giải quyết những vấn đề phức tạp.

Thời gian gần đây, giới trí thức cũng có nhiều biểu hiện cẩu thả, chẳng hạn như, sách in ra lúc nào cũng có bốn năm người chịu trách nhiệm xuất bản, nhưng đa số sách (cả tự điển tiếng Việt và sách giáo khoa) đều còn sót lại quá nhiều lỗi hay ý nghĩa gốc bị lệch lạc http://vnca.cand.com.vn/vi-VN/doisongvanhoa/2009/3/53631.cand.

Có người trí thức hàng top viết cuốn sách nghiên cứu văn hoá VN rất công phu (được cả chục Ts, phó Ts, Gs và nhà văn, nhà báo khen ngợi), nhưng ông ta dịch câu tục ngữ “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” thành “Near the ink, you are black; near the light, you will shine”. Ông này ẩu vì tục ngữ chỉ nên giải thích chứ không nên dịch, còn nếu dịch thì phải dịch theo ý nghĩa thật sự của nó chứ không được dịch theo kiểu dịch từng chữ một. Mới đây, người Thầy đáng kính Văn Như Cương, tuyên bố rằng ông ta rất bất bình với Bộ Giáo Dục vì Bộ sẽ chi 70 ngàn tỉ đồng (hơn ba tỉ đô Mỹ) chỉ để biên soạn bộ sách giáo khoa mới. Vô số web đăng tin với hàng trăm bình luận ủng hộ nổi bức xúc của thầy và dĩ nhiên không ai bảo thầy tuyên bố vô lý, vô căn cứ. Một ví dụ nữa, không biết lúc đầu do ai chủ xướng mà có nhiều học giả và trí thức Việt Nam tin rằng có hai nền văn hoá chính của nhân loại: văn hoá du mục và văn hoá nông nghiệp. Có ông được đà nên đưa ra cái ví dụ rất kỳ quặc: Đảng Cộng Hoà của Mỹ đại diện cho văn hoá nông nghiệp và đảng Dân Chủ đại diện cho văn hoá du mục.

Môi trường sống và làm việc mỗi ngày càng phức tạp. Ta phải học hỏi không ngừng để có thể thích nghi tốt với những đổi thay trong xã hội, trong đó có phong cách làm việc. Và điều tối kỵ nhất của phong cách chuyên nghiệp chính là sự cẩu thả.

Thời buổi này, ta có nhiều phương tiện để thu thập đủ loại kiến thức, nhưng chắc chắn không nhất thiết phải biết hết mọi sự việc xảy ra trong xã hội VN và trên thế giới, mà quan trọng nhất là sự hiểu biết của ta phải có chiều sâu và có căn bản.

Nói chung, tính cẩu thả có nguồn gốc từ sự lười biếng. Nếu bạn là người thèm muốn sự thành công thì trước tiên phải dẹp bỏ cái tính này. Muốn bỏ cũng không khó lắm. Chỉ cần tập chú ý lắng nghe khi ai giải thích, căn dặn, hay yêu cầu việc gì. Có quyết tâm: “Ta phải cố gắng, ta làm tốt được”. Khi nào có thắc mắc hay chưa hiểu rõ việc gì thì phải làm cho được bằng cách đọc sách, xem tài liệu, google, yêu cầu giải thích thêm, đặt câu hỏi, nêu thắc mắc với cấp trên, với thầy cô, với bạn bè hay trên các diễn đàn, blog.

Paul Le

Tìm hiểu về lợi ích của tỉ mỉ

Tỉ mỉ là rất kỷ, rất cẩn thận – để ý và quan tâm đến từng chi tiết, kể cả những chi tiết có vẻ không quan trọng hay ít được để ý đến trong công việc của mình.

Công việc nào cũng đòi hỏi có sự tỉ mỉ nếu ta muốn có kết quả đạt yêu cầu hay muốn hoàn thành như ý. Việc gì càng quan trọng, tầm cở, phức tạp hay cần có sự chính xác thì tỉ mỉ càng đóng vai trò thiết yếu. Ví dụ: Một chiếc xe Toyota được lắp ráp bởi 30 000 cái part. Mỗi cái đều có vai trò quan trọng riêng của nó nên người ta vẫn luôn nghiên cứu để nâng cao chất lượng, độ bền, tính an toàn… cho tất cả parts chứ không phải chỉ tập trung chú ý đến vài chục hay vài trăm part.

Bạn thử tưởng tượng xem chuyện gì sẽ xảy ra nếu một chiếc xe được lắp ráp thiếu một ít part hay là được lắp vào với một số part đã bị hư hỏng khi sản suất? Nếu chuyện này xảy ra thường xuyên thì chắc chắn thương hiệu Toyota đã không thể nào đạt được sự thành công và lớn mạnh như ngày hôm nay. Chính nhờ sự tỉ mỉ mà những sai sót có thể xảy ra trong quá trình chế tạo, kiểm tra chất lượng, và lắp ráp đối với 30 000 cái part bị loại bỏ gần như tuyệt đối. Người Nhật nổi tiếng tỉ mỉ nên cái gì họ làm ra cũng ít bị khuyết điểm, cũng tốt và bền. Từ câu chuyện cả 30 ngàn cái part của một chiếc xe, cái nào cũng có vai trò đặc biệt của nó dù nhỏ hay lớn, dù giá trị ít hay nhiều, ta có thể liên tưởng đến sự quan trọng của những chi tiết hay những yếu tố cực nhỏ hay gặp trong công việc: Đừng coi thường chúng!

Trong cuộc sống hằng ngày ta tin cậy và cảm thấy thoả mái khi gặp một anh thợ sửa xe, cô thợ may, thợ cắt tóc, hay một kế toán viên, một luật sư, một bác sĩ có tính tỉ mỉ. Khi nghe kể một câu chuyện thú vị, nghe thông báo, nghe tin tức, nghe ai hướng dẫn/giải thích một sự việc gì, hay nghe thầy cô giảng bài, ta thích được nghe rõ ràng từng chi tiết. Ta cảm thấy hạnh phúc khi nào được người ta phục vụ cho mình tỉ mỉ tại quán ăn, tại văn phòng… Nói chung, ta thích tiếp xúc, làm khách hàng hay hợp tác làm ăn với người có tính tỉ mỉ.

So với người bình thường thì người có tính tỉ mỉ là người siêng năng và có lương tâm nghề nghiệp – Hết lòng và nghiêm túc với công việc của mình. Họ cũng thường tự (sớm) phát hiện ra ưu khuyết điểm hay sai sót kịp thời để loại bỏ hay có thể khắc phục. Để ý những doanh nhân thành đạt của nước ta hay của thế giới, ta sẽ thấy ai cũng tỉ mỉ cả. Chính nó đã giúp họ thành công và sau đó giúp cũng cố địa vị của họ trong xã hội.

Ở các nước giàu có, con người tỉ mỉ với công việc của mình là chuyện tự nhiên vì lương tâm nghề nghiệp và vì được huấn luyện như vậy. Ai làm việc lôi thôi, ẩu tả hay có phong cách không chuyên nghiệp thì thế nào cũng bị khách than phiền hay vì làm mất khách rồi bị cho nghỉ việc. Hãy nhìn những sản phẩm vật chất hay sản phẩm nghệ thuật (DVD/show ca nhạc, truyền hình, reality shows, và phim ảnh) của những nước đã phát triển để cảm nhận tầm quan trọng của tỉ mỉ. Không chỉ các sản phẩm hoành tráng tốn kém nhiều mà những cái có ngân quỹ nhỏ nhoi cũng đều được chăm chút từng li từng tí.

Nói chung, ngoài góp phần cho sự thành công, tỉ mỉ còn tạo nên đẵng cấp. Đúng vậy, ví dụ, vào khách sao 5 sao thấy cái gì ta cũng mê thích và gần như không tìm ra khuyết điểm để chê, từ cung cách phục vụ, thức ăn, lọ hoa, cái mền, cái bàn, cái ghế, phòng tắm, màu sắc phối hợp hài hoà; trong khi không phải cái gì ở trong khách sạn 3 sao cũng cho ta ấn tượng mạnh.

Ở nước ta, trước kia có nhiều người không ưa cái tính quan trọng cả chi tiết nhỏ nhặt này vì họ cho đây là một tính xấu. Thật ra, xã hội thời trước quá đơn giản nên đâu cần phải tỉ mỉ làm gì. Ngoài ra, còn có một lý do khác: Tỉ mỉ làm chi cho cực tấm thân – Con người chưa đủ kiến thức và chưa đủ khôn để nhận ra sự lợi ích của tỉ mỉ. Ngày nay, thời thế đã thay đổi, do đó sẽ thiệt thòi cho ta và cho xã hội nếu tính tỉ mỉ còn chưa được quan tâm đúng mức; Không chỉ chính quyền và doanh nghiệp cần quan tâm đến tính này, mà mỗi chúng ta đều phải nên học tập vì lợi ích của chính bản thân.

Paul le

Tìm hiểu về suy nghĩ sâu sắc

Thường thường ta cần có suy nghĩ sâu sắc khi muốn tìm hiểu, khi cần phải lên tiếng, khi cần phải làm một sự việc quan trọng hay phức tạp nào đó.

Suy nghĩ sâu sắc không có nghĩa là lúc nào cũng suy nghĩ, mà là suy nghĩ có mục đích, không bị ảnh hưởng bởi cảm xúc và có phương pháp. Có phương pháp nghĩa là chịu thu thập, chịu dựa vào nhiều nguồn thông tin liên quan đến sự việc (cả trực tiếp lẫn gián tiếp) để phân tích, ngẫm nghĩ trước khi đưa ra ý kiến, trước khi bắt tay vào việc.

Trong cuộc sống ta thấy có một số người, lời nói của họ thường mang nhiều ý nghĩa, hợp lý và có tính thuyết phục cao. Khi làm một việc gì dù gặp khó khăn họ vẫn làm đến nơi đến chốn và thường gặt hái kết quả tốt. Người như vậy ta gọi là người sâu sắc.

Người có suy nghĩ sâu sắc thường tự biết cái gì nên nói, nên làm, và cái gì không nên. Khi làm một việc gì họ chịu khó phân tích, mổ xẻ mọi khía cạnh cả ưu lẫn khuyết hầu tìm ra cách giải quyết hữu hiệu nhất, đồng thời vạch ra chương trình hành động một cách rõ ràng, cụ thể và hợp lý. Có thể nói, người có suy nghĩ sâu sắc thường tự tin, có bản lĩnh và có khả năng xử lý, đối phó tốt với với mọi vấn đề trong mọi tình huống.

Ngược lại, người ít chịu suy nghĩ và không biết cách suy nghĩ thường lặp lại sai lầm cũ, dễ nổi nóng, hay phát ngôn bừa bãi, làm nhiều việc vô ý thức, dễ mất lòng người khác. Họ có thể đảm nhận tốt những công việc quen thuộc hay công việc giống nhau mỗi ngày. Tuy nhiên nếu được giao việc phức tạp thì họ không có khả năng hoàn thành tốt vì đầu óc ít nhạy bén, thiếu kiên nhẫn và họ không thể tự nghĩ ra cách làm việc có phương pháp. Có thể nói, người ít suy nghĩ thường dựa vào môi trường quen thuộc và họ thường yếu kém khả năng làm việc độc lập.

Người có suy nghĩ sâu sắc thường có ít tật xấu (có thể vì họ kềm chế, che đậy giỏi). Trong khi đó, người ít suy nghĩ thì ẩu tả với những việc làm thiếu văn hoá của mình vì họ không ý thức được việc gì đúng việc gì sai. họ không hiểu được tầm quan trọng của việc cần phải có ý thức. Họ thường không tự nhận ra các thói xấu của mình, trong khi ưa chỉ trích những thói xấu tương tự nơi người khác.

Theo tôi, người có suy nghĩ sâu sắc có vài khác biệt so với người thông minh. Thông minh là một tư chất tốt do được sinh ra như vậy. Người thông minh tiếp thu và sử dụng kiến thức tốt. Người thông minh cũng thấy được nhiều khía cạnh của vấn đề và lời nói của họ cũng thường có chiều sâu. Khác biệt đáng nói giữa hai loại người này là: người thông minh thường chủ quan, trong khi người sâu sắc chịu suy nghĩ, cẩn thận, kiên nhẫn trong cách đối đáp và trong công việc.

Người thông minh có thể làm xong việc nhanh, nhưng hay gặp những khó khăn bất ngờ. Trong khi công việc của người suy nghĩ sâu sắc thường suông sẻ. Người thông minh có thể bỏ cuộc vì chán nãn, vì gặp khó khăn hay vì kết quả tạm thời không như ý. Còn người sâu sắc thường làm đến cùng vì họ đã có tiên đoán, đã có tính toán kỷ lưỡng mọi sự trước khi bắt tay vào cuộc. Vậy, suy nghĩ sâu sắc là một cách giúp ta đạt được mục đích. Nó bù đắp, hổ trợ cho sự thông minh nhằm giúp ta dễ thành công hơn trong công việc.

Trái ngược với sự sâu sắc là sự nông cạn. Tôi không nghĩ là có người nào nông cạn vì ai cũng có một bộ não nên ai cũng có thể suy nghĩ thật thấu đáo nếu chịu tập. Tuy nhiên, có nhiều người vì lười suy nghĩ nên chỉ thấy cái lợi nhỏ trước mắt. Đôi khi họ nói hay làm những việc chỉ có tính thoả mãn tạm thời chứ không thấy, không lường được cái hại sẽ xảy ra sau đó. Họ dễ bực bội, dễ nãn chí, dễ bỏ cuộc nữa chừng. Họ vẫn còn thói quen thích nghe, thích tin những tin đồn nhảm, những điều tán dốc, những sự việc được nghe từ người này qua người khác. Nói chung, suy nghĩ nông cạn chỉ có hại.

Có một số người tự cho là họ suy nghĩ rất nhiều, nhưng họ không làm xong việc tốt hay họ không thể nói được lời nói thuyết phục. Có thể bởi vì suy nghĩ nhiều nhưng chưa được khách quan, chưa đúng cách – ví dụ: họ quá chú tâm đến quyền lợi cá nhân, họ chỉ chọn ra vài ba sự việc liên quan đến vấn đề để xem xét trước khi có quyết định nên họ bỏ xót nhiều nguồn thông tin có giá trị.

Một trong những yếu tố giúp cho ta có suy nghĩ sâu sắc là đọc sách. Đọc sách giúp ta nâng cao kiến thức, có được những hiểu biết có căn bản và có kinh nghiệm lý luận, kinh nghiệm suy nghĩ, kinh nghiệm cảm nhận sự việc một cách khách quan. Chính những yếu tố vừa nêu giúp ta tự tin và có lập trường vững chắc. Đây cũng là những điều kiện cần thiết cho một bộ óc có khả năng nhìn xa thấy rộng. Một yếu tố khác cũng không kém phần quan trọng: phải tìm hiểu tường tận bằng cách tìm tòi trong sách, trên mạng và hãy tập đưa ra câu hỏi/ thắc mắc khi nào có thể.

Tóm lại, hằng ngày ta vẫn suy nghĩ đủ chuyện nhưng có những lúc ta cần phải có những suy nghĩ sâu sắc để bảo đảm việc làm hay lời nói của ta có chất lượng và có giá trị. Sâu sắc rất hữu ích cho người bạn thân, cho người đồng nghiệp, cho người con trong gia đình, cho người chồng và vợ, cho người chỉ huy…. và hữu ích cho tất cả mọi người. Nó còn có thể nâng cao ý nghĩa cuộc đời, niềm hạnh phúc và sự thành công cho ta. Thật vậy ai cũng có thể Suy Nghĩ Sâu Sắc và ai cũng nên tập Suy Nghĩ Sâu Sắc.

Paulle

Vì sao trước kia ta có nhiều nhân tài hơn sau này?

Bạn có biết vì sao 5-7 chục năm trước nước ta có nhiều nhân tài hơn sau này? Phần tôi, cái thế giới tiếng Việt của tôi quá nhỏ nên tôi chưa gặp giải thích có đủ sức thuyết phục. Chính vì vậy mà tôi đã ngẫm nghĩ nhiều tới đề tài này và bây giờ muốn chia sẻ với các bạn một giải thích tương đối hợp lý.

Xin trả lời liền: hầu hết nhân tài Việt Nam về văn học, nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật…. đều có mối quan hệ với nền giáo dục Pháp hay nói một cách khác: chính nền giáo dục Pháp đã sản xuất ra hầu hết nhân tài Việt Nam thời cận đại.

Nền giáo dục Pháp ở đây là chương trình giáo dục ở nước ta vào thời thuộc địa vì thời ấy ta học theo chương trình như bên nước Pháp và học bằng tiếng Pháp. Trong bài học về lịch sử ta cũng phải học rằng tổ tiên ta là giống Gauloise. Vâng, chính vì chương trình được soạn tốt, có giá trị kích thích sự phát triển đầu óc và sự sáng tạo cao, cho nên dù truờng học vào thời ấy không nhiều (chỉ Hà Nội, Huế, Sài Gòn mới có trường cấp 3 và trường Cao đẳng) nhưng đã sản xuất ra nhiều nhân tài hàng đầu: Văn Cao, Phạm Duy, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tuân, Lưu Hữu Phước, Võ nguyên Giáp, Nguyễn Hiến lê, Kim Định, Nguyễn Xuân Vinh, Trịnh Công Sơn…. và còn biết bao người khác.

Theo tôi, chương trình giáo dục vào thời Pháp thuộc tốt hơn việc đưa học sinh đi du học hay đi du học tự túc sau này vì thời ấy tất cả học sinh Việt Nam đều được đi “du học” ngay từ khi bước chân vào lớp một chứ không phải là học xong chương trình phổ thông cấp 3 rồi mới đi. Đúng vậy, mọi học sinh Tiểu học, Trung học hay Cao đẳng đều học ở trường Tây với thầy cô Tây, với kỷ luật Tây và phải nói tiếng Tây với nhau ngay tại đất nước của mình chứ không cần đi ra khỏi nước.

Thời ấy, người Việt nào đi học đều có đủ mọi điều kiện để trở nên không thua gì người Tây đang sống tại Việt nam hay người Tây đang sống ở nước Pháp vì trẻ em Việt và trẻ em Pháp đều thừa hưởng một nền giáo dục như nhau, bắt đầu từ khi bước chân đến trường. Còn ngày nay, ta học được nhiều cái hay khi đi du học nhưng các tính tốt của Tây hay cách làm việc kiểu Tây thì không tiếp thu vô cái đầu nhiều như mấy đứa nhỏ.

Tiếc thay, khi Tây rời khỏi Việt nam thì miền Bắc đã soạn lại bộ sách giáo khoa rất thuần Việt. Nhân tài có liên quan với chế độ giáo dục cũ không được trọng dụng rộng rãi, đồng thời trường được mở khắp nơi để xoá nạn mù chữ nên giáo viên được đạo tạo hàng loạt một cách vội vã đã làm cho chất lượng giáo dục bị suy giảm. Ngoài ra, phong cách giảng dạy của thầy cô cũng thay đổi cho khác với thời trước, phải thật Việt nam và thật chính trị. Tầm quan trọng của giáo dục càng ít được để ý trong thời gian bị máy bay ném bom hay từ lúc miền Bắc quyết định ồ ạt đưa quân vào nam. Số học sinh tiếp tục học sau khi tốt nghiệp lớp 10 cũng chẳng được bao nhiêu. Mọi chất xám và mọi nỗ lực của miền Bắc vào lúc đó tập trung cho cuộc nam tiến.

Trong khi đó, ở miền Nam bộ sách giáo khoa không được sửa cho khác 100% như ở miền Bắc mà vẫn giữ lại những cái hay. Nhân tài được tận dụng tiếp tục. Có thể nói chương trình giáo dục của miền Nam vẫn duy trì được cái tinh hoa cũ và cái chất lượng cao. Nó chỉ thua chương trình của Pháp ở chổ, tất cả giáo viên đều là Ta và đều được giáo sư ta đào tạo. Trong khi vào thời Pháp, giáo sư phần lớn là Tây, giáo viên thì cả Tây lẫn ta nhưng phong cách giảng dạy rất Tây và luôn có những thanh tra Tây khắt khe đi kiểm tra chất lượng. Đó là nói về lúc đầu chứ khi chiến tranh xảy ra thì học giỏi, đàn hay, vẽ đẹp, viết tốt đều phải tham gia chiến tranh cho nên bài hát và văn chương cũng thường nói về lính.

Sau khi đất nước thống nhất thì chương trình giáo dục kém chất lượng của miền Bắc được đề cao là chương trình ưu việt và được áp dụng cho toàn quốc. Vậy là ta đã tiếp tục đi lùi trong chương trình giáo dục và trong phong cách làm việc: lần đầu tiên (1954) là nhân danh “bài phong diệt thực” và lần sau (1975) là nhân danh “xoá bỏ tàn tích của Mỹ Ngụy.”

Phong cách làm việc của Tây và ta khác nhau ra sao? Tây thường tỉ mỉ, kỷ luật và nghiêm túc với công việc. Đây là những yếu tố cần thiết cho những ai muốn thành công. Còn người Việt chúng ta? Làm việc cho người nước ngoài thì ta còn ráng chăm chỉ, cẩn thận và ráng chu toàn trách nhiệm. Nhưng khi làm cho ta hay trong môi trường toàn là phe ta thì ta dễ trở nên lè phè và ẩu tả. Bởi vậy, chương trình giáo dục và đào tạo đã làm cho ta mỗi ngày càng xa dần cái phong cách văn minh và các tính tốt mà những thế hệ trước đã thừa hưởng trực tiếp từ người Tây nên nhân tài có tầm cỡ quốc tế càng ngày càng khan hiếm.

Muốn có một xã hội văn minh thì phải có một nền giáo dục ưu việt. Muốn có nền giáo dục ưu việt thì phải có một bộ sách giáo khoa tiên tiến và phải củng cố lại phong cách làm việc của thầy cô. Hiện nay bộ giáo dục đang soạn lại bộ sách giáo khoa. Hy vọng những người có trách nhiệm tham khảo kỹ lưỡng thật nhiều bộ sách giáo khoa của những nước văn minh, giàu có và có nền văn hoá gần gũi với ta: Nhật, Hàn, Singapore, Đài Loan…. Bộ sách của họ có cách viết, cách trình bày có tính khoa học cao, dễ hiểu, chứa đựng kiến thức thực dụng, sâu sắc và có tác dụng kích thích sự thông minh nhiều. Tôi nghĩ, dịch ra tiếng Việt một bộ sách nào đó sẽ giúp nâng cao chương trình giảng dạy của ta. Chỉ cần sửa/soạn lại những phần về văn hoá, con người, địa điểm…. thành ra của Việt Nam. Vâng, dịch là con đường tắt cho phép ta sở hữu bộ sách giáo khoa hàng đầu. Bạn có cho là tôi đang nói đùa?

Tóm lại, nếu phải tìm ra một vài ưu điểm của thời thuộc địa thì tôi chọn ngành giáo dục và tính: làm việc đến nơi đến chốn, sâu sắc, tỉ mỉ, kỷ luật mà biết bao học sinh người Việt đã có được nhờ vào môi trường giáo dục, môi trường Pháp và nhờ giao tiếp, học hỏi với người Pháp, với văn hoá Pháp. Tôi tiếc là ta đã không duy trì những cái hay đó.

Bài viết của tôi có thể đụng chạm đến tự ái dân tộc của bạn nhưng tôi viết với tinh thần xây dựng. Thấy có gì vô lý hay quá đáng thì hãy giúp tôi nhận ra để sửa lại.

Paulle