Nghề nail – nghề chủ yếu của người Việt tại Mỹ

Người Viêt gọi người làm trong tiệm làm móng tay là thợ nail hay thợ làm móng; người Mỹ gọi là nail technician hay manicurist. Thợ nam thường chỉ chuyên làm móng giả (còn gọi là móng bột), thợ nữ cũng làm móng giả và kiêm luôn những công việc khác. Khoảng 10 đến 20 năm trước có nhiều trí thức người Việt tự nguyện nhảy vô nghề để làm giàu. Cũng có nhiều trí thức vào nghề vì bị thất nghiệp. Họ thích nghề này vì đây là nghề phục vụ nên thường lấy tiền mặt và dễ trốn thuế. Dân trí thức còn nói tiếng Anh giỏi bởi vậy khách rất thích họ.

Trong những nghề nghiệp cần phải tiếp xúc với khách hàng thì nghề nail là một trong những nghề dễ tạo cho mối quan hệ khách-thợ gần gũi, thân mật. Chỉ có nghề nail, nhân viên mới có cả nữa tiếng đến một tiếng đồng hồ ngồi xuống đối diện với mỗi khách hàng trong tư thế thoả mái, mặt đối mặt, cách nhau chỉ vài gang tay để vừa làm vừa tán chuyện. Có nhiều chuyện để tán: chuyện riêng tư cá nhân hay gia đình đến chuyện shopping, công việc làm ăn ở văn phòng…. Cũng có người Tây cảm thấy cô đơn nên cần có người quen để tâm sự. Có người đem chuyện bực mình ra kể để xã stress. Nói chung, khi đã quen, đã có cảm tình thì người Tây rất thích kể chuyện này chuyện nọ với bạn nếu bạn gợi ý hay tỏ ra thích thú lắng nghe.

Khách làm nail cũng đa dạng như khách làm tóc, tức thuộc đủ mọi thành phần trong xã hội và già trẻ, giàu nghèo đủ cả. Họ có thể là dược sĩ, cầu thủ, bà triệu phú, con gái thị trưởng, thư ký toà Nhà trắng, cảnh sát nữ, bà chủ xí nghiệp, ca sĩ địa phương, kể cả những người đang nhận tiền trợ cấp của chính phủ, bà già sắp xuống lỗ hay em gái học sinh cấp hai, cấp ba. Vì vậy, chuyên gia nail thân thiện, biết gợi chuyện, thích tò mò là những người biết đủ thứ chuyện, nhất là chuyện đời tư của đàn bà.

Nghề nail thú vị đối với người nói được tiếng Anh. Đối với người dỡ tiếng Anh nếu không làm nail thì làm gì? Đi xin việc ở nhà hàng Tây, Tàu, Mễ, Ý…. thì không ai mướn vì tiếng Anh tệ. Đi làm nhà hàng Việt thì lưới biếng, nói không nghe hoặc sợ bị mấy ông bà chủ người đồng hương bóc lột. Vả lại, người Việt ít đi làm nhà hàng vì ngại gặp người quen, bởi vậy, chủ Việt thích mướn dân Mễ (ở Mỹ) hay chỉ dùng người trong gia đình. Đi làm hảng thì hơi vất vả mà lương thường không nhiều.

Vậy, nghề nail đã giúp giải quyết công ăn việc làm cho nhiều người Việt. Công việc không cực nhọc, tha hồ nói tiếng Việt với người đồng hương, tiền “tươi” vô nhiều. Có tiền, dân nail xài xã láng, tha hồ mua sắm, không cần biết đến ngày hôm sau. Ngày xưa, thợ nail thường mua xe xịn để khoe với nhau; mỗi tuần được nghĩ một ngày họ thường mò đến các casino để gởi bớt tiền, nhờ casino giữ giùm mà không cần lấy biên nhận.

Dăm ba năm trở lại đây, dân Tây càng nghèo nhưng tiệm nail càng mọc ra nhiều và giá nail bị rớt liên tục. Kết quả: tiền không còn dễ kiếm. Tuy nhiên, tại nhiều tiệm, anh em có trò chơi mới: lúc tiệm không có hay ế khách, anh em mở dvd coi phim thoả mái: Hàn, Đài, Thuý Nga…. Riết rồi thành thói quen và có khi cho khách nghe, xem luôn. Cũng có tiệm chọn môn “sát phạt” làm thú tiêu khiển. Vừa chơi vừa làm vui thật! Chơi, ai mà không ham? Chơi hấp dẫn hơn làm và dễ bị chơi quá đà. Bởi vậy, đang làm cho khách mà đầu óc để ở…. cái màn hình. Lúc chơi bài với nhau thì la ó vui lắm nhưng khi có khách vào là dỡ trò dành giựt. Tiệm càng ế thì mức độ giành giựt, kết bè phái càng khiếp.

Ngày xưa, thợ nail mới ra nghề thì ráng học hỏi cách phục vụ của Tây, ráng chìu khách, lo sợ bị Tây chê là mình không có văn hoá, lạc hậu. Nhưng một khi nắm bắt tâm lý dễ chịu của khách Tây thì nhiều thợ lơ đễnh với cung cách phục vụ chuyên nghiệp. Nhiều khi còn tỏ ra bất cần, không còn nễ sợ khách như lúc mới vào nghề. Ngoài ra, trong một đám đông người Việt thường có người muốn phá lệ, muốn xoá bỏ mọi ràng buột của kỷ cương và của tiêu chuẫn để làm theo cảm hứng hay theo ý riêng của mình. Có thể ban đầu không ai đồng ý, nhưng trước sau cũng có thêm người gia nhập sự phá lệ và cuối cùng thì tiêu chuẫn phục vụ của tiệm, thái độ của nhân viên bị xuống cấp. Có được mấy tiệm của người Việt một khi sắp chết thì bỗng nhiên thức tỉnh để cải tổ lại kịp thời?

Chẳng lẽ nghề nail sắp chết? Không có đâu! Ế, hơi ế thôi! Không còn làm ra nhiều tiền bằng hồi năm, bảy năm trước, nhưng vẫn khoẻ hơn và còn kiếm được tiền không thua gì đi cày ở factory hay làm nhiều nghề khác. Để sống còn, đa số tiệm gia tăng thêm dịch vụ phụ như: tanning, đấm bóp, nhổ lông mọi chổ trên cơ thể (kể cả Brasilian wax), xe lông mày theo kiểu Việt, làm mặt, tắm bùn, Jacuzzi, spa….

Thời nay, con người thích tự kinh doanh, vì vậy mà tiệm quán mỗi ngày càng được mở ra. Người Tàu đã có tiệm ăn Tàu khắp mọi nẽo đường của đất nước Mỹ, nhưng họ vẫn cứ mở thêm tiệm mới. Người Phi châu, Trung Đông cũng ào ào mở tiệm, mở nhà hàng, mở pharmacy, mở văn phòng: nha sĩ, bác sĩ, địa ốc…. Trăm tiệm đua mở! Tiệm quán tưng bừng khai trương khắp nơi nhưng giá thì vẫn cứ tăng – luật tự nhiên mà, phải chấp nhận thôi.

Tuy nhiên, cách làm ăn của người Việt không giống ai. Khi chỉ có một tiệm nail người Việt thì giá cả bằng với giá của tiệm Tây. Thêm một tiệm Việt nữa, hạ giá xuống 20%, ba tiệm 30% và càng có nhiều người Việt nhào vào nghề thì giá càng trở nên “bèo” hơn. Ví dụ: ở Nam Cali giá một bộ móng là 45 đô vào năm 1985; xuống 35 vào đầu thập niên 90; còn 25 vào giữa thập niên 90. Năm 2000 chỉ còn 15-20 đô. Tương tự, năm 94-95 Toronto mới có tiệm nên giá là 40 đô và năm 2000 xuống còn 20 đô. Giảm sơ để ai cũng có thể có móng tay giả được là việc tốt. Nhưng giảm hoài nên thợ nail ngồi 11-12 tiếng/ngày với tiền thu được có khi còn tệ hơn được trả “lương Giờ tối thiểu”.

Một việc làm không giống ai khác của người Việt là mở tiệm bừa bãi. Thấy có tiệm nail ở đó rồi nhưng vẫn có người sẵn sàng mở thêm một tiệm nằm kế bên hay cùng một dãy phố hay trong cùng một khu thương xá. Chỉ có người Việt mới làm vậy, chứ dân di trú khác, họ không dám đâu. Làm vậy cho bị mang tiếng NGU trong cộng đồng à? Và mặt mũi nào để nhìn mặt người đồng hương. Ngoài ra, tiệm người ta đã có lâu năm, đã hốt hết khách trong khu vực thì tại sao mình không tìm khu phố chưa có tiệm để mở? Bạn có cái thắc mắc ngây thơ này không hả? Câu trả lời là: nhiều người Việt xấu xí có thói quen tranh ăn bất chính và sẵn sàng đánh phá người Việt khác. Đương nhiên là họ có chiêu độc.

Cái chiêu vừa dơ, vừa độc, vừa phản bội đồng bào là chiêu “giảm giá”. Người Việt yếu bóng vía lắm – thấy người ta giảm mình cũng run nên cũng bắt chước giảm để giữ chân khách. Dĩ nhiên giảm giá thì chất lượng phải giảm. Chất lượng giảm thì sự hài lòng của khách cũng giảm. Rất tiếc, có quá nhiều người Việt mở tiệm nhưng không thật sự có tinh thần kinh doanh và không có đầu óc cầu tiến.

Quảng cáo của các nail supply store và quảng cáo cần thợ nail đầy dẫy trên các tờ báo giấy của người Việt, nhưng hiếm thấy bài vở về nail: chia sẽ kinh nghiệm, cách bảo vệ sức khoẻ, cách phân chia công việc cho thợ, cách tránh những cạm bẫy trong hợp đồng thuê tiệm, cách cư xữ với khách, với landlord. Nhiều người trí thức Việt vẫn chưa cảm thấy thoả mái để bàn chuyện về nghề nail với người Việt và thường né tránh khi những người bạn khác chủng tộc nói về nail.

Có thể nói: Người Việt chưa có văn hoá đoàn kết trong Kinh Doanh hay chưa có văn hoá kinh doanh: kết hợp và bảo vệ quyền lợi làm ăn cho nhau. Bởi vậy, ta đã không tận dụng tốt cái may mắn của ta và đó cũng là một trong những lý do tại sao thợ nail người Việt chỉ phục vụ tầng lớp trung lưu và bình dân.

Paulle

3 phản hồi

  1. Chi

    Tôi muốn biết một số câu nói thông dụng cần thiết mà chuyên viên làm móng tay (nail) cần biết, ai biết chỉ dùm. Cảm ơn trước

  2. Đức Nguyên

    Đây là một số từ và câu nói tiếng Anh, tiếng Mỹ chuyên môn trong nghành nails (đọc giữa âm nêu và neo, muốn đọc đúng phải vừa đọc vừa nhoẻn miệng như cười – chú thích của St).

    Cọ gọi là brush; bột gọi là powder; nước: liquid; hủ đựng bột: powder container; hủ đựng nước: liquid container; thuốc cầm máu: stop-bleeding anticeptic; cục xốp để chà lên móng bột trước khi đi rữa tay: buffer; cây đẫy da: cuticle pusher; da chết: cuticle; cái bộ phận bạn cầm trong tay để đi máy gọi là hand piece; cái đầu diamond để gắn vào handpiece gọi là carbide; súng để phun (thổi, bắn) mẫu gọi là gun (air brush gun); mực : ink; hột xoàn: stone hay rhinestone; vòng: loop (khách có thể hiểu chữ ring); đồ bỏ vào loop gọi là charm, đồ metal gắn trên móng cũng gọi là charm; keo: glue; đồ hơ tay: dryer; quạt: fan; nước sơn lót: base coat; nước sơn bóng để bảo vệ lớp sơn (sau khi sơn): top coat; kiềm cắt da chết: cuticle nipper hay cuticle cutter; phần dưới móng tay: underneath, ví dụ: clean underneath; cái cọ dùng để đắp bột: brush; cái chổi quyét bụi: brush; cái kiềm dùng để kẹp, giử đồ: plier; dầu bôi lên móng khi làm xong việc: cuticle oil; dầu bôi lên cuticle cho da chết mềm ra và dễ cắt: citicle softener; dây bông gòn: cotton coil; bột có thể đục: dark; có thể trong: look clear; móng có thể giòn: crispy; bị mẽ: chip ; khi khách đã có móng và quay trở lại sau vài tuần để fill; khi làm fill có nhiều chổ móng bị lift (bung, không còn bám); cắt bỏ: cut; mài xuống: file it down; làm cho đều hay làm cho giống nhau: make it even; dùng cọ để vẽ: nail art. Nói với khách xong rồi: it’s finished hay it’s done hay you are done; nếu xong rồi mà khách cũng đã đưa tiền rồi: you can go now; hỏi khách muốn dài bao nhiêu: how long do you like? what’s the length? How about the length? đục lỗ: I drill a hole hay I make a hole; móng chưa khô hoàn toàn: it’s not completely dried hay not totally/ completely dry (but you can go if you want: nhưng đi được muốn muốn); khô: dry (it’s dry); ướt: wet; chưa khô, còn ước: still wet; hôi: stink (it stinks hay là bad smell); nặng mùi quá: it’s smelly

    -Chào hỏi: Hi, may I help you? Do you like fake nails or manicure or pedicure? (muốn làm móng giả hay làm móng tay, móng chân thật) Hay là: You like manicure? You like acrylic nails? You like pedicure? You like waxing? You like massage? Không nên nói: “What do you want?”

    -”Sit down, please” hay “Have a seat, please” để mời khách ngồi vào ghế.

    -What kind of nails do you like? What kind of service do you like? Hỏi khách muốn loại móng gì hay loại phục vụ gì.

    - “Give me your hand, please” nói khách đưa bàn tay cho mình. Trường hợp họ ngồi quá xa nên khó làm việc thì bạn yêu cầu: “please move closer” hay là “I need your hand closer, please” hay ” move your chair closer/ a little bit please”. Nếu khách hay cử động đột ngột thì yêu cầu: ” don’t move your hand, please” hay “keep your hand still, please” hay “oh, you hand’s shaking too much”.

    - “I’d like to have thin nails” hay “Make it thin” (làm cho mỏng) hay là make it look natural (làm cho giống tự nhiên). Dày: thick.

    - Hình dạng: shape; móng vuông: square shape; móng tròn: round shape. Make it round? Make it square? Hay là nữa vuông nữa tròn: make it half round half square hay móng vuông nhưng tròn ở góc: “make it square with round corner” hay “square and round corner”, hay là “round but not too round” (tròn nhưng không tròn lắm).

    - Nếu bạn làm việc mạnh bạo có thể khách nói: “be gentle, please”, “you are too rough” hay “be more careful, please”. Cũng có khi họ rút tay than đau: it hurts! hay than nóng: it’s hot! Hay “you’re killing me!” Trong những trường hợp vừa kể, bạn phải nói sorry hay I am sorry.

    - Bạn có thể dùng từ more và less, chẳng hạn, ít tròn: less round; tròn hơn: more round; more square; more shiny….

    - Khi khách yêu cầu việc gì nhưng bạn không định làm liền theo ý của khách thì bạn phải nói: don’t wory, I will fix it (do it) later để khách an tâm. Trả lời “I know” (tôi biết hay tôi biết rồi) là không đúng vì trong ngành phục vụ bạn phải ltrả lời thẳng vào yêu cầu: làm hay không làm. Tuy nhiên bạn có thể nói: I know (it) but I will fix it (do it) later for you.

    -Bảo khách đi rữa tay: now, wash your hands please (in the back or in the washroom).

    -Nước sơn: nail polish, nail color. what color do you want? I do nail polish, I do the design for you, I do air brush.

    -Bảo khách nhìn vào cái pattern để chọn mẫu màu sơn hay mẫu design: have a look at the pattern. Làm design cần có mẫu gọi là stencil. Design phứt tạp gọi là fancy design (cần có nhiều shot).

    -Cái cây dũa gọi là emery board, có thể gọi file và động tác dũa gọi là file, ví dụ, file a bit more, don’t file too much at the corner.

    Nhớ bấy nhiêu thôi. Good luck!

  3. Cái khổ của nghề nail là không làm việc theo giờ hành chánh mà thường là 9-10 giờ sáng đến 8-9 giờ tối sáng và làm 7 ngày trong tuần. Bởi vậy, không còn nhiều thì giờ cho bản thân và cho gia đình.

    Nghề này làm theo ăn chia phần trăm nên tiền thu nhập rất thất thường và nhiều khi thợ mới, thợ già hay tay nghề yếu thường hay ngồi chơi nhiều, nhất là vào thời buổi kinh tế cứ tuột dốc.

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.