Miền Nam Việt Nam trước 1975 – nước Việt Nam Cộng Hòa

Thời Tổng thống Ngô Đình Diệm Miền Nam tương đối thanh bình, nhưng sau khi xuất hiện “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam” thì tình hình chiến sự bắt đầu sôi động. Lúc đầu Mỹ gởi hàng chục ngàn cố vấn rồi nhiều năm sau mới gởi quân đến. Mỹ đã giúp xây dựng hạ tầng cơ sở như làm đường, xây cầu và lắp đặt hệ thống thoát nước cho thành phố…. và viện trợ cho năm ba nhà máy lớn, ví dụ nhà máy xi măng Hà Tiên, nhà máy dệt Vinatexco…. Có nhiều dấu hiệu cho thấy vào thời gian đầu Mỹ đã muốn giúp cho Nam Việt Nam có khả năng tự lực, tự cường như đang giúp cho Hàn Quốc và Đài Loan. Nhưng chính quyền Ngô Đình Diệm đã có chính sách sai và đã không tận dụng tốt sự giúp đỡ của Mỹ.

Đa số chức vụ quan trọng trong chính quyền và quân đội do người của gia đình ông Diệm và người Thiên Chúa giáo thuộc các tỉnh ở phía bắc miền Trung nắm giữ (tức nhóm người TCG di cư từ Bắc vào). Có 700 ngàn người Công giáo trong tổng số 860 ngàn người đi di cư vào Nam. Người ta đi di cư vì nhiều lý do: sợ bị trả thù, di cư theo lệnh của giáo hội, di cư vì tin vào lời tuyên tuyền “Chúa đã vào Nam” (sáng kiến của một trùm CIA, đồng thời là cố vấn của Ngô Đình Diệm: tướng Lansdale); và mạnh dạn ra đi vì biết chắc chính quyền Ngô đình Diệm sẽ dành mọi sự ưu tiên và nâng đỡ cho người đồng đạo.

Đã có nhiều con đường mang tên Đại lộ Ngô Đình Thục (ở Vĩnh Long, khu phố đẹp nhất có tên “phố đức cha”) và tên của nhiều nhân vật thân Pháp được đặt cho đường xá, trường học…. Ví dụ, Linh mục Trần Lực được tôn vinh là: Nam tước quốc công (anh hùng dân tộc). Có một trường nằm trên đường Hai Bà Trưng, gần nhà thờ Tân Định, mang tên trường TH Trần Lực. Sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị sụp đỗ người ta mới biết Linh mục Lực đã cùng 5 ngàn giáo dân Phát Diệm, Kẻ Sở, Điền Hộ, và Bố Xương, giúp quân Pháp đánh phá chiến khu Ba Đình của Đinh Công Tráng. Ngày mừng 20 năm được phong Giám mục của ông Ngô Đình Thục; lễ tang của người anh cả: Ngô Đình Khôi (Tổng đốc tỉnh Quảng Nam: tham ô, bê bối, và có tiếng chuyên ngủ với vợ con thuộc cấp); lễ thượng thọ cho mẹ ông Diệm, đều được tổ chức qui mô không thua gì quốc lễ và và luôn có hàng trăm nhân vật quan trọng từ khắp nơi mang quà về Huế tham dự.

Theo nhiều tài liệu, anh em nhà họ Ngô, ngoài trừ ông Diệm, đều có liên quan đến: buôn lậu, buôn thuốc phiện, khai thác gỗ lậu…. Có một tỉnh mới được thành lập mang tên là tỉnh Chương Thiện (chính là tên của ba và mẹ của bà Nhu ghép lại: Trần Văn Chương – Thân Thị Thiện). Vì ông Diệm không lập gia đình nên bà Trần Lệ Xuân (vợ Ngô Đình Nhu) đã là đệ nhất phu nhân. Chính quyền cho tạc tượng hai bà Trưng, có khuôn mặt giống y như mặt của hai mẹ con bà Nhu, đặt tại công trường Mê Linh. Tượng này (và tượng “Giám mục Bá Đa Lộc dẫn dắt Hoàng tử Cảnh” đặt trước nhà thờ Đức Bà) đã bị sinh viên Sài Gòn đập nát và kéo lê khắp phố vào ngày đảo chánh.

Mụ Luyến, một người hầu của ông Ngô Đình Khả, bị đân Huế gán cho tên “đệ nhất phu nhân của miền Trung.” Mẹ ông Diệm (bà Ngô Đình Khả) được gọi là bà “Thái từ”. Giám mục Ngô Đình Thục được gọi là “Đức Cha”. Ông Ngô Đình Cẩn là lãnh chúa của miền Trung và được gọi là “Cậu” – nhiều quan chức làm việc ở miền Trung sợ Cậu Cẩn hơn sợ ông Nhu. Ông Ngô Đình Diệm khi nắm chính quyền mới 55 tuổi mà đã được gọi “Cụ”. Ông Ngô Đình Nhu thì được gọi là “ông cố vấn.”

Chính quyền Ngô Đình Diệm vẫn tiếp tục duy trì luật độc tôn về tôn giáo đã có từ khi Pháp mới vừa thành lập chính quyền thuộc địa, tức chỉ công nhận duy nhất đạo Thiên Chúa giáo, còn các đạo khác có giá trị pháp danh ngang hàng với các hội đoàn trong xã hội. Nhiều người thoát cảnh tù tội (kể cả tù chính trị hay tù cộng sản) và còn được lên chức mau lẹ nhờ họ chịu bỏ đạo cũ và xin trở thành người Thiên Chúa giáo. Nhiều Linh mục, Giám mục trở thành những cố vấn cho các ông lớn trong chính quyền. Trong quân đội cũng có hàng trăm ông Cha tuyên uý hoạt động. Suốt 9 năm dưới thời Ngô Đình Diệm lễ giỗ Tổ Hùng Vương đã không bao giờ được nhắc tới.

Trước kia, cần có ít nhất 30 năm để leo lên chức bộ trưởng vì mỗi chức vụ phải qua 3-4 cấp, mỗi cấp phải có khoảng 3 năm thâm niên. Nhưng con đường quan lộ của ông Diệm đã vươn lên vùn vụt: 20 tuổi làm Tri huyện, 28 tuổi làm Tuần vũ (tức Tỉnh trưởng tỉnh nhỏ) và 32 tuổi làm Bộ trưởng. Một Bộ trưởng trẻ tuổi nhất thế giới?

Ông Diệm sống chủ yếu tại các tu viện Công Giáo trong suốt gần 4 năm lưu vong ở Mỹ. Nhờ có quan hệ mật thiết với Toà Thành Vatican nên ông Diệm đã được một số chính trị gia theo đạo Công Giáo và Dức Hồng Y Spellman tận tình giúp đỡ. Ngoài ra, CIA và chính phủ Mỹ đã tạo áp lực với chính phủ Pháp phải nhượng bộ cho con cờ NĐD của họ. Bà Nam Phương Hoàng Hậu cũng bị thuyết phục phải ủng hộ ông Diệm. Bởi vậy, vua Bảo Đại đã chấp nhận cho ông Diệm về nước làm Thủ tướng, và sau đó một năm ông Diệm đã trút phế luôn vua Bảo Đại.

Thời ông Diệm phải hát Quốc ca và bài “Suy Tôn Ngô Tổng Thống” trước khi xem chiếu phim ở rạp, buổi sáng tại trường và các buổi lễ… Bốn năm đi vận động ở nước ngoài với Vatican và Mỹ đã được bỏ vào bài hát Suy tôn Ngô Tổng thống:

“Ai bao năm từng lê gót nơi quê người
Cứu đất nước thề tranh đấu cho tự do
…..
Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Ngô Tổng Thống
Ngô Tổng Thống, Ngô Tổng Thống muôn năm”

Nguyễn Văn Thiệu lấy vợ Thiên Chúa giáo nên đổi đạo theo vợ. Ông Thiệu cũng tham gia đảo chính Tổng thống Diệm nhưng sau khi nắm quyền, Tổng thống Thiệu cấu kết với khối Thiên Chúa giáo để tái sử dụng những nhân vật của đảng Cần Lao Công Giáo và âm thầm xây dựng “Phong trào phục hồi tinh thần Ngô Đình Diệm” nên báo chí thân nhà Ngô được phép sống lại. Thời ông Diệm, người Công giáo nắm chức vụ lớn trong quân đội còn ít lắm nhưng họ có quyền thế hơn vì có chức lớn trong đảng.

Từ cuối thập niên 60, tại mộ của ông Diệm và ông Nhu luôn có một hai ngàn người đến dự ngày tưởng niệm 2/11, trong số người đó có bà Nguyễn Văn Thiệu. Nhiều người miền Nam cho rằng chế độ quân phiệt của Thiệu là chế độ Diệm nhưng không có Diệm. Cái khác nhau giữa hai chế độ là: các Cha đạo kín đáo chi phối sự lãnh đạo của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, chứ không công khai như dưới thời Ngô Đình Diệm.

Một sự khác nữa là: gia đình Ngô Đình Diệm nhiều khi không làm theo ý của người Mỹ. Còn Nguyễn Văn Thiệu làm theo hầu như 100% ý muốn của Mỹ. Sau khi Trung Quốc chiếm đảo của Việt Nam, một số tướng lãnh đã hai lần trình lên kế hoạch tái chiếm Trường Sa, nhưng Tổng thống Thiệu không giải quyết và lắc đầu nói: “Bỏ qua đi. Bạn (Mỹ) không chịu.”

Trước 30/4/1975 ở miền Nam, nạn hối lộ và tham nhũng trầm trọng hơn nhiều so với thời thuộc địa. Nhiều cảnh sát và quan chức chính phủ cấu kết với Đại gia người Tàu chợ Lớn (Nhiều quận ở Sài Gòn phải bỏ ra vài triệu mới được làm Quận trưởng) và “Tứ Đại Thiên Vương” (Đại, Tì, Cái, Thế) trong giới giang hồ để kiếm thêm tiền. Bởi vậy mới có cuốn sách của Toan Ánh mang tên “Nghệ thuật tham nhũng và hối lộ”. Nền an ninh quốc gia chỉ an toàn trong phạm vi thành phố. Sinh viên và Phật tử hay xuống đường chống chính phủ. Có hàng trăm ngàn lính Mỹ trú đóng tại miền Nam nên nạn mại dâm bùng phát mạnh mẽ khắp nơi. Tóm lại, thành ngữ phổ biến trong dân gian dưới thời Việt Nam Cộng Hoà là: “Nhất đĩ, nhì Cha, tam Sư, tứ Tướng”

*

Đảng Cần Lao còn được gọi là Cần Lao Công Giáo vì người gia nhập đảng đa số là người Công giáo. Muốn vào đảng phải đi học các lớp đặc biệt do các ông Cha Thiên Chúa giáo phụ trách. Hiện nay ở nước ngoài vẫn còn nhiều tàn dư Cần Lao hay cảm tình viên của Cần Lao. Họ cũng viết hồi ký, sách lịch sử, truyện, văn, thơ, viết báo hay làm văn nghệ và làm rất hăng say.

Trước 1975 họ tạo ra phong trào ca tụng và tạo hình ảnh đẹp đẽ cho Ngô Đình Diệm, gia đình Diệm, chế độ Diệm. Ở nước ngoài, họ thường dựng hình ảnh miền Nam trước 75 như là một thiên đường đã mất. Họ hay nói, miền Nam đã giàu có như Nhật bản, Đài Loan, Hàn Quốc và đã giàu hơn Thái Lan, Mã Lai, Phi Luật Tân…. Chắc chắn không đúng vì một cựu thuộc địa luôn bị chiến tranh tàn phá; kinh tế nằm gọn trong tay người Tàu; an ninh ở vùng nông thôn không được bảo đảm; biểu tình chống chính phủ diễn ra thường xuyên; ngân sách quốc gia do Mỹ tài trợ; trường đại học lưa thưa mới mở chưa được 10 cái, thì làm sao Việt Nam Cộng Hoà giàu có bằng hay hơn nước nào được, ngoài trừ hai nước lân cận có cùng chung số phận như nước ta, tức là Lào và Cam Bốt. Sự thật: Nhật đã có nền kinh tế lớn thứ nhì thế giới vào năm 1968. Thủ đô Seoul của Hàn Quốc đã biến khu ổ chuột cuối cùng vào năm 1963 thành một công viên sinh thái rộng lớn và cho xây cao tốc hai tầng chạy xuyên qua thành phố như các thành phố ở Bắc Mỹ đã và đang làm.

Họ hay than rằng họ đã bị mất nước. Ngày 30 tháng 4, ở nước ngoài họ tổ chức “Ngày Quốc Hận 30 tháng 4”. Bởi cho rằng đã mất nước nên họ chủ trương không gỡi quà, tiền bạc, về nước; không giao lưu văn nghệ với văn nghệ sĩ từ trong nước mới ra; không về Việt Nam làm ăn hay sinh sống và không đi du lịch Việt Nam.

Theo tôi, thời thuộc địa và thời miền Nam Việt Nam trước năm 75, trường học không nhiều, nhưng hệ thống đào tạo theo kiểu Pháp, theo tiêu chuẫn Pháp vẫn còn ảnh hưởng mạnh đã tạo ra nhiều nhân tài hơn cho đất nước so với thời gian sau này (được trình bày chi tiết hơn trong bài “Vì sao trước kia nước ta có nhiều nhân tài hơn sau này”). Rất tiếc là dù cho có nhiều nhân tài và nhân tài tương đối được trọng dụng ở miền Nam (chứ không như ở miền bắc), nhưng đa số không có tinh thần đoàn kết và do coi trọng quyền lợi của cá nhân, của thiểu số hay của phe phái lên trên quyền lợi của quốc gia/ dân tộc. Bởi vậy, cho dù có gần một triệu quân được huấn luyện tốt và được trang bị hiện đại, cộng với hơn nữa triệu quân của Mỹ và quân của nhiều nước đồng minh, Miền Nam vẫn bị sụp đỗ dễ dàng. Lính tráng sẵn sàng buông súng, không chiến đấu một khi thiếu tiền, thiếu vũ khí từ Mỹ, hay một khi cấp chỉ huy (Tổng thống) muốn bỏ cuộc, như đã xảy ra vào mùa Xuân năm 1975.

Ngẫm nghĩ lại việc xưa, có nhiều người như sĩ quan Lê văn Phúc, tác giả cuốn sách “Tôi làm tôi mất nước”, Tướng Đỗ Mậu trong “Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi” và nhiều người khác cho rằng Việt Nam Cộng Hoà ở cái thế trước sau gì cũng thua vì thiếu tinh thần chiến đấu, vì nạn tham nhũng lan tràn, vì chính quyền bù nhìn và vì không có chính nghĩa hay đánh mất chính nghĩa khi để Mỹ nhảy vào. Có người hiểu biết còn cho rằng Việt nam Cộng Hoà thua từ đầu bởi sự hiện diện của chế độ Ngô Đình Diệm: độc tài, độc tôn và phong kiến.

Tôi viết bài này dưới ảnh hưởng nặng nề của cuốn hồi ký dày hơn 1000 trang -“Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi”. Cuốn sách của Đỗ Mậu có thể cho ta cái nhìn tổng quát một cách tương đối khách quan về tình hình miền Nam Việt Nam trước năm 1975.

5 phản hồi

  1. So với người Cộng Sản Việt Nam thì người quốc gia rất chia rẽ.

    Sau 30/4/75 mấy (chục?) ngàn công chức cao cấp và sĩ quan của miền Nam bị đưa đi lao động, cải tạo. 20-30 năm trước báo chí của người Việt ở nước ngoài đã từng đăng rùm beng trong nhiều năm liền biết bao vụ chia phe phái để phanh phui, truy tố, kết tội lẫn nhau giữa những người từng bị đi học tập cải tạo. Bắt đầu bằng việc tố nhà văn miền Nam nổi tiếng, Duyên Anh, đã làm an-ten trong tù – họ chia làm hai phe: bênh vực hay chống Duyên Anh để đấu nhau.

    Hồi ký của nhà văn sĩ quan Huy Phương “Nước Mỹ lạnh lùng” cũng có vài bài tỏ ra phẫn nộ bởi cách đối xử hạ cấp của anh em sĩ quan từng có cùng chung chí hướng, cùng chung quân thù trong các trại tù ông đã từng trãi qua: khom lưng làm nô lệ cho cai tù CS rồi chế ra đủ trò để cư xử, sát phạt tàn nhẫn, vô cảm đối với người đồng chí đồng cảnh ngộ, vì vậy cho nên ban quản trị trại tù không bao giờ cần phải đánh đập tù nhân.

    Ra nước ngoài, người ta không coi các cấp chỉ huy cũ ra gì và sự sống chết của những người ấy cũng mặc kệ. Vua Bảo Đại, cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, bà cựu Đệ nhất phu nhân Trần Lệ Xuân (vừa mất), cựu Tổng thống Dương Văn Minh, Trần Văn Hương…. sống ra sao…. chết cũng không được ai để ý hay tham dự. Người nào còn sống, chẳng hạn như ông Nguyễn Cao Kỳ, cũng bị họ coi thường. Thương gia nổi tiếng người Việt như ông chủ của mấy chục tiệm Lee’s sandwich, ông tỉ phú trẻ Trung Dung cũng đều bị tẩy chay chỉ vì họ có tham gia đầu tư tại Việt Nam (trừ ông chủ của thương xá Phước Lộc Thọ ở little Sài Gòn vì là người Tàu).

    Đọc cuốn sách dày cộm xuất bản hơn 20 năm trước của nhà văn sĩ quan Đặng Văn Nhâm nêu ra hậu trường sân khấu chính trị của miền Nam, tôi nhớ có hình ảnh rất ấn tượng: tù binh cộng sản tại trại tù Phú Quốc trốn trại bằng cách ngồi trong thùng phân (với cái ống để thở) để bạn tù khiêng ra đổ ở bên ngoài trại (trong rừng). Ông Nhâm kể lại rằng trại tù không biết tại sao lâu lâu có một tù binh bị mất tích nhưng có báo cáo của lính đi theo đám tù đổ rác rằng đã có lần nhìn thấy cục phân lớn bằng người bỏ chạy vào rừng.

    Người quốc gia duy nhất biết đoàn kết chính là người Thiên chúa giáo. Dù chỉ là thiểu số, dù năm 1955 trí thức Công giáo không có mấy người; người Công giáo nắm chức vụ cao cấp nhất trong quân đội thuộc địa, trung tá Huỳnh văn Cao nắm chức tiểu đội trưởng. Tuy nhiên người Thiên chúa giáo Việt Nam đã biết đoàn kết, cùng nhau nâng đỡ và họ khôn ngoan dựa vào thế lực bên ngoài, mà họ đã làm nên nhiều chuyện, đã chỉ huy, hướng dẫn cả một nước (MNVN), một dân tộc, một đám đa số trí thức hay có chức vụ quan trọng nhưng khác đạo, đi theo con đường do họ chọn lựa. Ngày xưa đã vậy và ngày nay cũng gần như vậy tại hải ngoại.

  2. Bài viết làm con người ta đáng phải suy nghĩ .Người CS ở trong nước chủ trương hòa giải dân tộc,theo tôi nghĩ nên được gọi là hòa giải tôn giáo thì đúng hơn .Đó là mẫu chốt quan trọng của vấn đề đoàn kết chống giặc TQ trong thời gian không xa .
    Cháu rất thích đọc những bài phân tích theo kiểu khách quan của bác ,chúc bác sức khỏe .

  3. Songtra thấy bác này nói chuyện lý thuyết quá nên phản ảnh không đúng với thực tế. ST cho rằng hoà hợp hoà giải mà người CS đã sử dụng trong chiến tranh chỉ là một chiêu bài chứ không phải là một chủ trương. Bác cũng không nên gọi là hoà giải tôn giáo vì các tôn giáo ở Việt Nam đâu có bao giờ xung đột nhau mà phải cần sự hoà giải.
    Tóm lại, bác này đang đi lạc vào đây nên nói chuyện lạc đề.

  4. Khách

    Ông Thiệu lấy vợ Công Giáo ?
    Ông thân Bà Thiệu mất trước năm 1975, đám tang làm theo nghi lễ Phật Giáo, xin tìm đọc tin tức tài liệu cũ – gia đình bà Thiệu ở Mỹ Tho, theo đạo Phật 100%

  5. Cảm ơn bạn đã đưa ra một ý kiến. Khi nào có tài liệu bà Nguyễn Văn Thiệu là người Phật giáo thì bạn nhớ cho xin cái link.
    Sau đây là thêm 2 tài liệu khác để chứng minh sự việc.

    #1. Dưới đây là paragraph 2 & 3 của phần “Cả làng xin được rửa tội…” ( http://sachhiem.net/THOISU_CT/ChuTr/TranLam.php ):

    Nguyễn Hiến Lê có đề cập đến trong hồi ký của mình (trang 121, tập II). Ông kể lại: “Diệm-Nhu theo chính sách ba-Đ: Đảng (Cần Lao), Đạo (Công giáo) và Địa phương (miền Trung). Chỉ công chức nào có đủ ba Đ mới được tin dùng, cho nên con số tín đồ Công giáo tăng vọt lên, nhất là ở miền Trung; có giáo đường làm lễ rửa tội hằng trăm người một lúc.”

    Người nổi tiếng và thành đạt nhất trong nhóm Giáo dân tân tòng này không phải ai khác hơn là một viên sĩ quan gốc miền Trung tên Nguyễn Văn Thiệu. Ông Thiệu lập gia đình với một nữ tín đồ Công giáo trước khi Ngô triều được thiết lập. Nhưng mãi đến năm 1958, tức là lúc triều đại này đã “vững nền thịnh trị”, ông mới để cho Linh mục Bửu Dưỡng, một lý thuyết gia quan trọng của trường phái Cần lao Nhân vị, rửa tội tại Đà Lạt. Chính LM Bửu Dưỡng đã cho Tướng Edward Lansdale biết điều này và nhờ bản báo cáo Lansdale gửi cho Đại sứ Elsworth Bunker ngày 20 tháng 4 năm 1968, nên sử gia Vũ Ngự Chiêu mới có thể tìm ra được một chứng liệu thành văn về sự trở lại đạo của Nguyễn Văn Thiệu.[8] Arthur Dommen, một học giả có cảm tình với họ Ngô, cũng cho biết vị Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh trong tương lai này không theo đạo lúc lập gia đình, mà chỉ làm việc này sau khi chiếc ghế Tổng thống của Ngô Đình Diệm đã vững như bàn thạch.[9]

    Trường hợp Nguyễn Văn Thiệu, như đã nói, chỉ là trường hợp nổi bật nhất. Hiện tượng người Lương ồ ạt theo đạo Công giáo thời Ngô Đình Diệm mà Nguyễn Hiến Lê kể lại đã được tạp chí Informations Catholiques Internationales phát hành ngày 15 tháng 3 năm 1963 xác nhận.

    #2. Sau đây là 3 cái paragraph, 2 ngay trước hình thứ nhì và 1 ngay sau hình ( http://phunutoday.vn/blognguoinoitieng/201106/Nguyen-Thi-Mai-anh-va-the-gioi-tam-linh-cua-vo-chong-TT-Thieu-2033125/ ):

    Bà Nguyễn Văn Thiệu có khuê danh Nguyễn Thị Mai Anh, là con gái thứ bảy trong một gia đình có mười người anh em, có nghề lương y truyền thống nổi tiếng ở Thành phố Mỹ Tho-Tiền Giang. Là người theo đạo Công giáo toàn tòng nhưng bà Mai Anh ảnh hưởng khá lớn nề nếp, gia phong của một gia đình phong kiến, trong phong thái, cung cách ứng xử, phẩm hạnh của bà thể hiện rất rỏ nét sự tinh hoa của Khổng giáo trong cách đối nhân, xử thế.

    Chính bác sĩ Huỳnh Văn Xuân làm mai mối cho Thiệu quen Mai Anh. Mặc khác, cậu Mai Anh là Đặng Văn Quang là bạn học cùng khóa võ bị Đà Lạt với Thiệu nên mối tình nhanh chóng được xúc tiến hôn nhân, dù có đôi chút trở ngại vì Mai Anh là tín đồ Thiên Chúa giáo. Nhưng do sự dàn xếp của gia đình đám cưới vẫn tiến hành trọng thể không gặp khó khăn như ông hoàng Bảo Đại với Nam Phương Hoàng hậu ngày xưa.

    Sau này Thiệu mới rửa tội trở thành tín đồ Thiên Chúa giáo Roma. Nhiều hình ảnh tư liệu lưu lại cho thấy, Nguyễn Văn Thiệu là một con chiên rất ngoan đạo, thường có mặt tại các giáo đường những ngày lễ Thánh, chiều Chủ Nhật tại nhà thờ Đức Bà.

    Vợ chồng Thiệu mê tín di đoan xưa nay hiếm

    Năm 1951, thiếu tá Nguyễn Văn Thiệu cưới Nguyễn Thị Mai Anh theo nghi lễ truyền thống của người dân miền Trung thờ Phật và thờ ông bà.

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.