Từ chính phủ Trần Trọng Kiêm đến CP Nguyễn văn Thiệu (tt)
Ngày 1 tháng 11 năm 1963, chính quyền Ngô Đình Diệm bị đảo chánh bởi hầu hết Tướng, Tá của quân đội miền Nam, và có tình báo Mỹ (CIA) ngầm giúp đỡ. Hậu quả: gần 4 năm kế tiếp là giai đoạn khủng hoảng chính trị của Miền Nam Việt Nam.
Có thể nói chính phủ Ngô Đình Diệm bị lật đổ vì có nhiều khuyết điểm như: gia đình trị, độc tài, đảng trị, đàn áp Phật Giáo, không được sự ủng hộ của phần đông dân chúng. Nhưng quan trọng nhất là, chính phủ Ngô Đình Diệm đã làm trái ý với những đòi hỏi, yêu cầu của Hoa Kỳ. Sau đây là câu nói bất hủ của TT Ngô Đình Diệm:
“Nếu quý vị mang Quân đội Mỹ vào Việt Nam, tôi phải giải thích thế nào đây với dân tộc tôi? Với người dân Việt, hình ảnh hãi hùng của Quân đội Viễn chinh Pháp còn hằn sâu trong tâm trí họ. Sự can thiệp của bất cứ quân đội ngoại quốc nào vào Việt Nam cũng đem lại sự bất lợi cho Việt Nam”
4. THỜI KỲ KHỦNG HOẢNG CHÍNH TRỊ (1963-1967)
Sau ngày 1 11/1963, Miền Nam Việt Nam trở lại thời kỳ loạn vì những tranh chấp quyền lực diễn ra liên tục. Chỉ trong vòng 20 tháng đầu tiên, Miền Nam phải chứng kiến hơn 10 biến cố chính trị. Phe quân đội lần lượt truất phế nhau. Những chính phủ dân sự được dựng lên rồi bị lật đổ hoặc tự giải tán. Biểu tình xảy ra thường xuyên. Về mặt pháp lý, bản Hiến pháp năm 1956 bị vô hiệu hóa. Thay vào đó là một loạt hiến chương có tính cách tạm thời.
Thời Đệ Nhất Cộng Hoà người dân không được tự do và có nhiều ấm ức nên vào 2 năm đầu của thời kỳ hậu Ngô Đình Diệm, sự tố khổ chế độ cũ lan rộng trên nhiều phương tiện thông tin và sách báo. Có cả một bộ tem 3 con với những hình ảnh vùng lên vứt bỏ gông cùm xiềng xích được phát hành để kỷ niệm cuộc cách mạng này. Đại uý phi công Phạm Phú Quốc nhờ có công dám thả bom xuống dinh Tổng thống (1961) xém giết cả nhà cố vấn Ngô Đình Nhu và sau đó bị chính phủ ông Diệm giam tù cho đến ngày 1/11/63, nên sau khi bị chết trên đất Bắc (1965) đã được vinh danh bằng bài hát “Huyền sử ca một người mang tên Quốc”.
Thời này có tướng Nguyễn Khánh được xem là người giữ nhiều quyền lực tối cao nhất trong lịch sử 20 năm của VNCH. Ông là Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng, kiêm Quốc trưởng, kiêm Thủ tướng, kiêm Tổng tư lệnh, và kiêm Tổng tham mưu trưởng quân lực Việt Nam Cộng Hoà trong giai đoạn 1964-1965.
Tháng 6/1966, Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia do tướng Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ điều hành tuyên bố mở cuộc bầu cử Quốc Hội. Cuộc Tổng tuyển cử Tổng thống và Quốc hội diễn ra vào ngày 3 tháng 9 năm 1967, mở ra nền Đệ Nhị Cọng Hoà và dĩ nhiên là liên danh Nguyễn Văn Thiệu-Nguyễn Cao Kỳ thắng cử.
5. VIỆT NAM CỘNG HOÀ: Đệ Nhị Cộng Hoà (1967-1975)
Trước đó chính quyền Ngô đình Diệm chọn ngày lật đổ vua Bảo đại làm ngày Quốc khánh, thì sau khi gia đình nhà Ngô bị lật đổ, chính phủ mới cũng chọn ngày lật đổ ấy làm ngày Quốc khánh mới cho miền Nam.
Đây là thời kỳ khói lửa nhất trong chiến tranh tại Việt Nam – Bắt đầu từ việc lính Mỹ đổ bộ ồ ạt vào Việt Nam. Từ năm 1971, khi quân đội Mỹ rút dần khỏi Việt Nam thì hầu hết những vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn cách xa vài cây số từ các trục lộ giao thông chính, và vùng ngoại ô của thị xả, thị trấn, thành phố được xem là không an toàn, nhất là ban đêm. Mỗi sáng sớm phải chờ xe dò gỡ mìn mở đường rồi xe cộ mới dám chạy (ở những khúc đường vắng dân cư, xa phố xá).
Người của quân đội nắm giữ hầu hết mọi cơ quan hành chánh của đất nước (ví dụ, ông Trung tá tỉnh trưởng Bình Định, ông Đại uý trưởng ty giáo dục Phú Yên) và hầu hết nghệ sĩ và trí thức phải gia nhập quân đội để dáp ứng cho sự leo thang chiến tranh. Thời Đệ Nhị Cộng Hoà chỉ tồn tại 8 năm, nhưng nhờ có tiền Mỹ viện trợ và tiền tiêu xài của lính Mỹ nên kinh tế có vẻ phát triển, ít ra là ở bề ngoài. Chính phủ dễ dãi hơn thời trước nên văn học, nghệ thuật cũng được đà sinh hoạt nhộn nhịp.
Năm 1971, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tái đắc cử nhiệm kỳ thứ hai một cách dễ dàng vì không có đối phương ra tranh cử. Trước cuộc bầu cử không lâu, vài điều luật mới được thông qua nhằm hạn chế số lượng ứng cử viên của các đảng phái đối lập. Theo luật mới thì mỗi ứng cử viên phải có 40 (theo wikipedia, chắc không chính xác) chữ ký ủng hộ của dân biểu hay nghị sĩ Quốc hội và 100 (theo wikipedia, chắc không chính xác) chữ ký của các thành viên trong hội đồng tỉnh. Bởi vậy, vô số chính trị gia đối lập phải rút tên vì không đủ điều kiện tham gia tranh cử, mặc dù lúc bấy giờ có tất cả là 9 đảng phái chính thức hoạt động.
Vào năm 1972 quân đội Hoa Kỳ hoàn toàn rút khỏi Việt Nam. Năm 1973, Tổng thống Mỹ hứa “lèo” với Nguyễn Văn Thiệu và ép ông Thiệu ký vào Hiệp định Paris (được thảo luận giữa bốn bên tham chiến là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Hoa Kỳ, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và Việt Nam Cộng Hòa). Hiệp định này được báo chí miền Nam gọi là hiệp định “da beo”, vì nó công nhận sự hợp pháp của Mặt Trận Giải Phóng và nó công nhận những vùng đất mà Mặt Trận Giải Phóng đã chiếm đóng là đất thuộc quyền của Mặt Trận. Bị mất viện trợ dần dần về tài chánh và quân sự từ Hoa Kỳ, quân đội và chính phủ miền Nam dần dần hoạt động kém hiệu quả. Mùa Xuân năm 1975, khi bị tấn công là Tướng, Tá miền Nam tự động buông súng bỏ chạy và khi Sài Gòn sắp bị bao vây thì các Tướng, Tá và những nhân vật cầm đầu guồng máy chính quyền chạy ra nước ngoài.
Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu có vài câu nói nỗi tiếng mà câu phổ biến nhất là:
“Đừng nghe những gì Cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm!”
Câu này có giá trị tuyên truyền nhắm vào lớp người bình dân. Bạn có thể thay bất cứ chữ nào cho “Cộng sản”. Tôi nghĩ, Nguyễn Văn Thiệu dùng câu nói này để che dấu cái tính nói một đường làm một nẽo của chính mình. Khi có quyền hành trong tay, ông Thiệu làm ngược lại với mục đích của cuộc đảo chánh 1/11/63 mà ông đã tham gia với chức vụ Đại tá. Đàn em ông Thiệu còn dùng xe cảnh sát hụ còi khẩn cấp để đoàn xe buôn lậu (có sự hợp tác của gia đình ông) chạy lọt qua trạm kiểm soát dọc đường (vụ “còi hụ Long An” là vụ nỗi tiếng nhất). Cái mâu thuẫn cuối cùng của ông Thiệu: khi tuyên bố từ chức, ông ta hứa sẽ ở lại cùng với quân đội và đồng bào chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Trên TV và radio, giọng nói ngậm ngùi và ngẹn ngào tưởng như có thể oà khóc bất cứ lúc nào, nhưng sau khi tuyên bố được vài ngày là ông Thiệu lên Tàu thuỷ đi khỏi nước.
Kết luận:
Tóm lại, Đế Quốc Việt Nam là chính phủ không Cộng Sản đầu tiên do Thủ tướng Trần Trọng Kim lãnh đạo. Đây là chính phủ bù nhìn do Nhật dựng lên. Do đó, số phận chết yểu của nó gắn liền với sự giải giới của quân đội Nhật đóng tại Việt Nam. Chính phủ Bảo Đại thân Pháp là chính quyền bù nhìn cho Pháp, sinh ra trong lúc Pháp đang kiệt quệ bởi lực lượng Việt Minh. Chính phủ Bảo Đại không có quân đội, tài chính và quyền ngoại giao, vì những quyền này do chính phủ thực dân nắm.
Thời Đệ Nhất Cộng Hoà, Chính phủ Tổng thống Diệm độc tài làm nhiều điều sai, rất nhiều người bị bắt, giết oan. Thời này đất nước thanh bình, mọi người no ấm, vui vẻ – ngoại trừ người Cộng Sản và cảm tình viên cộng Sản sống ở Miền Nam, và những người không bằng lòng với chính sách cai trị kỳ thị của chính quyền. Chính phủ Tổng thống Diệm có vẻ coi trọng quyền tự quyết của dân tộc/ quốc gia.
Thời kỳ khủng hoảng sau khi lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm là thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử Việt Nam. Không ai phục ai nên đảo chính, thay đổi chính phủ, giải tán chính phủ, lật đổ Quốc trưởng, xảy ra gần như mỗi tháng nhất là trong vòng 20 tháng đầu. Vì vậy, xã hội cũng hổn loạn, biểu tình và tranh chấp đảng phái diễn ra thường xuyên. Thời này có phong trào kêu ca và tố khổ chế độ cũ Ngô Đình Diệm.
Thời Tổng thống Thiệu, Lính Mỹ và đồng minh Mỹ đổ bộ ồ ạt vào Việt Nam đánh Cộng sản dùm, nhưng sau đó Mỹ cũng ngấm ngầm dàn xếp với Miền Bắc để bỏ rơi Miền Nam. Dù chiến tranh diễn ra khốc liệt, nhưng kinh tế và văn học, nghệ thuật phát triễn tốt. Chỉ tiếc là những lãnh đạo của nền Đệ Nhị Cộng Hoà không có tinh thần tự túc, tự chủ và quá yếu đuối – hoàn toàn lệ thuộc vào viện trợ, đường lối chính trị, chiến lượt quân sự, sự cố vấn và ý muốn của Mỹ.
Paulle